Kinh tế học Phật giáo
- ĐẠO HY

- 2 thg 4
- 15 phút đọc
Đã cập nhật: 17 thg 4

Trước khi xuất hiện khái niệm “kinh tế học Phật giáo” (Buddhist economics), đã tồn tại các quan điểm về “kinh tế tôn giáo” tại châu Âu. Thông qua một vài lý thuyết về loại hình kinh tế này được khám phá và nghiên cứu trong thời kỳ cận-hiện đại, đã góp phần lý giải sự vận hành của thế giới tôn giáo qua góc nhìn kinh tế.
Kinh tế tôn giáo trên cơ bản vẫn là một lĩnh vực nghiên cứu tương đối mới mẻ, và nhân vật đầu tiên đề cập đến lĩnh vực này thường được nhìn nhận là Adam Smith. Trong tác phẩm nổi tiếng The wealth of nations (Sự thịnh vượng của các quốc gia) (1776), ông đề cập về việc tôn giáo đã tác động phần nào đến lĩnh vực kinh tế thông qua những hoạt động của Giáo hội La Mã. Đây có thể được xem là gợi ý đầu tiên nói về mối quan hệ giữa tôn giáo và kinh tế dưới góc nhìn của một kinh tế gia đúng nghĩa[1]. Tuy nhiên, phải đợi đến Nền đạo đức Tin lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản của Max Weber ra đời thì mới thực sự đã đặt dấu mốc quan trọng cho việc nghiên cứu về mối quan hệ giữa tôn giáo và kinh tế. Từ đây, mở ra hàng loạt nghiên cứu về lĩnh vực kinh tế tôn giáo, đã có nhiều góc nhìn mới mẻ với những tên tuổi như Laurence Iannaccone, William Sims Bainbridge, Rodney Stark, Roger Finke, hay Paul Seabright… Đáng chú ý, điểm nhấn trong các ý tưởng này là họ đều có chung quan điểm khi xem mô hình tôn giáo cũng như một mô hình kinh tế, dù được “che đậy” dưới lớp áo thiêng liêng nhưng sự vận hành thì không khác một tổ chức kinh tế thế tục - một “hình thức kinh tế đặc biệt”. Có thể nói, nếu chỉ xét trên phương diện xã hội, thì đây là một góc nhìn khá thực tiễn, nếu không muốn nói là “trần trụi”.
Paul Seabright thậm chí đã sử dụng thuật ngữ “nền kinh tế linh thiêng” (Divine economy) trong The divine economy: How religions compete for wealth, power and people để chỉ cho lĩnh vực kinh tế tôn giáo. Trong tác phẩm của mình, ông xem kinh tế tôn giáo được định hình không khác gì một tập đoàn thế tục với vô số chi nhánh được vận hành một cách khá chặt chẽ và bài bản. Với nguồn “tài nguyên tinh thần” dồi dào, thông qua đức tin, nhà điều phối là Giáo hội hay các tổ chức tôn giáo nói chung sẽ “rao bán” các “dịch vụ tâm linh” bao gồm cả phương diện hình thức lẫn tinh thần đến tín đồ của mình. Nói chung, mọi thứ đều có thể trở thành “hàng hóa” thuần túy theo nghĩa đen. Trong một môi trường rộng lớn, các tôn giáo phải cạnh tranh nhau để “chiếm lĩnh thị trường” của mình, nếu không muốn trở thành nạn nhân của sự đào thải. Do đó, các tôn giáo lớn (nhấn mạnh Kitô giáo và Hồi giáo) đều duy trì đều đặn phương thức hoạt động này trong suốt chiều dài lịch sử tồn tại của mình, họ đã tạo nên một “thương hiệu” riêng và đã thành công ngoài dự kiến. Với lượng tín đồ đông đảo và đầy lòng nhiệt thành, tôn giáo có thể tạo ra một nguồn kinh tế siêu lợi nhuận từ “thị trường màu mỡ” này.
Có thể nói, cách tiếp cận dùng các quy luật kinh tế để mổ xẻ thế giới tôn giáo dễ bị xem là “báng bổ” khi xem đức tin như một món hàng trao đổi. Tôn giáo, từ trước đến nay luôn được xem là vấn đề vô cùng phức tạp, nhưng nay lại bị đơn giản hóa dưới lăng kính đậm màu thế tục. Tuy nhiên, sự ra đời của góc nhìn này không phải là điều ngẫu nhiên mà có lý do từ lịch sử. Có lẽ một phần xuất phát từ sự tham chiếu trước những hiện tượng suy đồi tôn giáo trong giai đoạn Trung cổ, khi niềm tin đã được giới giáo sĩ đem ra trao đổi như một món hàng theo đúng nghĩa đen thì tổ chức tôn giáo thực sự đã hiện ra như một tổ chức kinh tế không hơn không kém. Tôn giáo vì thế đã trở thành một tổ chức thế tục thuần túy, và hoạt động kinh tế là mục đích cứu cánh cho ý nghĩa của sự tồn tại. Khi sự thiêng liêng trở nên tầm thường, và đức tin trở thành món hàng bán rẻ, tinh thần bị vứt bỏ và vật chất lên ngôi, thì ý nghĩa tôn giáo đã đi vào con đường băng hoại, và đó cũng chính là lý do quan trọng cho sự ra đời của phái Kháng cách (Tin lành).
Ngoài ra, ở một góc độ nào đó, cách tiếp cận này cũng có thể được xem như sự tiếp nối từ quan điểm của chủ nghĩa Marx khi xem tôn giáo vốn chỉ là một “hình thái ý thức xã hội” như các hình thái ý thức khác; hay đã kế thừa quan điểm của các nhà xã hội học như Max Weber, Émile Durkheim… khi xem tôn giáo như một “hiện tượng xã hội”, xuất hiện như một diễn trình tất yếu của lịch sử. Bởi theo đó, tôn giáo vốn là sản phẩm của con người, mà không phải là điều ngược lại, và con người lại bị thống trị bởi sản phẩm do chính mình tạo ra. Thực ra, dưới cái nhìn của kinh tế tôn giáo, phần nào đã “giải thiêng” sự huyền nhiệm của thế giới tôn giáo thông qua sử quan thực tiễn. Tuy nhiên, không khó để nhận ra sự hạn chế của cách tiếp cận này, bởi nếu đúng như vậy, tôn giáo có lẽ đã sớm lụi tàn trong quá khứ. Sự hấp dẫn của tôn giáo không nằm ở vấn đề kinh tế, mà nằm ở những giá trị sâu hơn. Giá trị của tôn giáo và ý thức của con người trong đời sống tôn giáo cho đến ngày nay vẫn được xem là một dạng thức phức tạp, không hề đơn giản để hiểu vấn đề này một cách thấu đáo. Tuy vậy, dù nhận nhiều sự chỉ trích, nhưng quan điểm trên cũng đã gợi ra một góc nhìn khá thú vị.
Với Phật giáo, quan điểm “kinh tế tôn giáo” từ góc nhìn của Paul Seabright thực ra không phản ánh được ý nghĩa kinh tế Phật giáo, mà thậm chí trở nên lệch lạc khi đã “cào bằng” và đơn giản hóa tính chất mọi tôn giáo là như nhau. Hình thức kinh tế tôn giáo mà Paul Seabright nhìn nhận chỉ có giá trị khi được đối chiếu trong một tôn giáo có mối liên hệ giữa người tín hữu và thế giới thần linh, bởi đó là điều kiện bắt buộc mang tính căn bản cho mọi sự “trao đổi”; nói cách khác, trong thế giới ngày nay, quan điểm trên chỉ có giá trị với các tôn giáo Abraham. Bởi từ bản chất tư tưởng, Phật giáo đã khước từ mọi ý nghĩa thần quyền, nên sẽ không tồn tại hình thức “trao-đổi” thông qua niềm tin của người tín hữu đối với thế giới thần linh. Với các tôn giáo hữu thần, hiện tượng trên dù khác biệt về mức độ, nhưng tính chất vẫn có thể đồng dạng; còn với Phật giáo, sự khác biệt đã nằm ngay trong bản chất, khi không chỉ phủ nhận uy quyền thần linh, mà phủ nhận luôn cả sự tồn tại của thế giới đó.
Do đó, kinh tế Phật giáo nếu được thành lập, chắc chắn phải lấy cảm hứng từ bản chất tư tưởng Phật giáo. Từ trong bản chất, Phật giáo đã xem xã hội là sự đan xen tương tác giữa vô số mối liên hệ để cùng tạo nên tính tổng hòa, đó là trạng thái mà mọi sự tồn tại đều mang trong mình tính chất liên đới của sự kết nối. Nguyên lý căn bản này được áp dụng cho việc lý giải từ thế giới tự nhiên đến sự vận hành xã hội, mọi sự vật hiện tượng đều móc nối với nhau qua mạng lưới liên đới đan xen chằng chịt. Sự phát triển kinh tế vì thế không chỉ liên hệ với các vấn đề căn bản như chính trị, văn hóa, khoa học; mà còn có mối tương quan mật thiết với sự công bằng xã hội cũng như yếu tố môi sinh.
Nhân loại từ thế kỷ XVIII khi bước vào con đường công nghiệp hóa được khởi đầu tại Anh và sau đó lan rộng toàn cầu đã chứng kiến sự tàn phá môi sinh nặng nề, chủ nghĩa tiêu thụ sau đó đã vét sạch những gì còn sót lại từ tài nguyên thiên nhiên. Trong một nền sản xuất mà dầu khí được xem là mạch máu, nguồn nguyên liệu tự nhiên rõ ràng không đủ sức cung ứng cho nhu cầu sản xuất trong một xã hội lấy chủ nghĩa tiêu thụ làm động lực phát triển. Do đó, ngay trong những năm đầu của thế kỷ XXI, người ta đã thấy được những hệ lụy trong phương thức phát triển kinh tế từ ba thế kỷ trước, bởi nếu tiếp diễn điều này sẽ đưa đến những hậu quả khó lường không thể kiểm soát như nhiều nhà lãnh đạo đã cảnh báo.
Đối với Phật giáo, thế giới này là tài sản chung của tất cả, mà không phải chỉ dành riêng cho loài người. Và khi con người ý thức được điều đó thì họ mới có thể cứu vãn cho hiện trạng trên. Tính tổng hòa chính là điều mà kinh tế Phật giáo nhấn mạnh, rằng sự phụ thuộc là tính chất quan trọng để gắn kết và bảo vệ những phương diện quan trọng khác biệt trước những nguy cơ bị tàn phá. Kinh tế Phật giáo vì vậy đã đưa ra lời cảnh báo cho sự mất cân bằng trong quá trình phát triển, đồng thời nó cổ súy cho một nền kinh tế có giá trị bền vững. Vậy nên, việc nhà kinh tế Shinichi Inoue xem kinh tế Phật giáo là lựa chọn tối ưu thay thế cho tinh thần sản xuất tàn phá của chủ nghĩa tư bản và cả chủ nghĩa xã hội[2] dù có thể là một thái độ mang hơi hướng lạc quan, nhưng với những gì đang diễn ra trong xã hội hiện tại thì quan điểm trên cũng là một kênh đáng để tham khảo.
Từ ý nghĩa trên, kinh tế đối với Phật giáo sẽ không thể tách biệt với hoạt động tôn giáo. Đặc biệt với nền Phật giáo Đại thừa, hoạt động trên lại càng được gắn bó một cách chặt chẽ, nói như Paul Williams thì “Tách biệt tôn giáo ra khỏi thế tục hoặc đời sống vật chất tương tự thế giới hiện đại thì hoàn toàn không phải là đặc trưng của trong thế giới quan của Phật giáo Đại thừa truyền thống”[3]. Thực ra, trong lịch sử phát triển đạo Phật, sự hình thành chế độ tu viện đã đánh dấu một sự thay đổi lớn về mô hình tổ chức cũng như tạo ra góc nhìn mới trong ý nghĩa kinh tế. Bởi ngay trong chế độ tu viện đã một phần mang tính chất kinh tế, sự liên đới về mặt kinh tế còn được mở rộng thông qua các hoạt động đa dạng của tu viện. Khi tinh thần Đại thừa bước vào mảnh đất Đông Á, mô hình tu viện càng được tổ chức bài bản, tính chặt chẽ được củng cố theo hình thức của một hệ thống. Theo đó, thông qua những nhu cầu về kiến trúc xây dựng, hội họa trang trí, in chép kinh điển, và tất cả những vấn đề liên quan đến đời sống kinh tế… đã thúc đẩy một cách gián tiếp vào sự phát triển kinh tế của xã hội. Và tất nhiên, đời sống tinh thần sẽ dễ dàng trở nên thăng hoa hơn nếu đời sống vật chất được đáp ứng một cách căn bản. Rõ ràng, điều này thậm chí đã được khuyến khích trong những chia sẻ của Đức Phật[4].
Tuy nhiên, sự phớt lờ của các thế hệ Tăng sĩ qua các thời đại về vấn đề kinh tế đã làm lu mờ vai trò của lĩnh vực này đến đời sống của người Phật tử. Việc kiến tạo đời sống vật chất vì thế dần trở nên mờ nhạt bên cạnh việc kiến tạo đời sống tinh thần, hiện trạng này đã trở nên phổ cập trong thế giới Phật giáo nói chung. Tuệ Sỹ trong bài Nền tảng Kinh tế học theo cách nhìn Phật giáo cũng đã nhận định: “Khía cạnh này trong giáo lý đức Phật rất thường bị bỏ qua, mà hầu như hoàn toàn chỉ chú trọng đến hành xử đạo đức”[5]. Có thể thấy, sự quan trọng của lĩnh vực kinh tế đã không được quan tâm đúng mức với tầm vóc của một tổ chức lớn như Phật giáo. Và thực ra, những nền tảng quan trong như Bát chánh đạo, nếu được áp dụng một cách khéo léo ở bất kỳ lĩnh vực nào, kể cả kinh tế, đều đưa đến những giá trị thiết thực, nhưng đáng tiếc là điều này đã không diễn ra. Vì thế, trong lịch sử hàng nghìn năm của đạo Phật, không hề tồn tại một quan điểm hay thái độ thực tiễn một cách có hệ thống về lĩnh vực kinh tế từ giới Tăng sĩ để cung ứng cho chính tín đồ của mình.
Dù người ta có thể kể ra một vài nhân vật đã từng tiếp cập về lĩnh vực kinh tế Phật giáo như trường hợp tương đối đơn giản của Bách Trượng với mô hình Nông thiền - một hình thức tự cung tự cấp của hệ thống Thiền viện, hay Thái Hư với Cách mạng giáo sản, và đi xa hơn là Nhất Hạnh với đề hướng xây dựng một lý thuyết kinh tế trên tinh thần Phật giáo[6]. Đặc biệt, thực tế hơn cả là Ngawang Tsültrim - Nhiếp chính trong triều đại Dalai Lama VIII - với chương trình cải tổ kinh tế Tây Tạng vô cùng ấn tượng, nhưng chương trình chỉ được thực thi trong thời gian ngắn ngủi nên không thể vực dậy sự chậm chạp của xã hội Tây Tạng. Nhìn chung, đó là vài trường hợp hiếm hoi, có cái nhìn thực tiễn về vấn đề kinh tế trong cơ cấu tổ chức Phật giáo. Còn trên cơ bản, rất khó để tìm thấy một nhân vật thực sự nổi bật trong giới Tăng sĩ có một hệ thống quan điểm hay chương trình hành động về kinh tế trong lịch sử. Để rồi cuối cùng, vấn đề này chỉ được thực hiện bởi những người thế tục.
Giữa thế kỷ XX, Schumacher, người đã tạo ra dấu ấn để khởi đầu cho việc nghiên cứu về lĩnh vực kinh tế Phật giáo một cách rõ ràng và có hệ thống. Thuật ngữ “Kinh tế học Phật giáo” được ông sử dụng lần đầu vào năm 1955 trong một bài luận có tên “Buddhist economics” trong cuốn Asia - A handbook (1966), và sau đó được in chính thức trong tác phẩm Small and beautiful, A study of economics, as if people mattered (1973)[7]. Có thể nói, với đóng góp của Schumacher, kinh tế học Phật giáo mới thực sự được xem là chuyên ngành cần được nghiên cứu một cách nghiêm túc; và đã mở ra một khuynh hướng tiếp cận mới cho nền kinh tế hiện đại khi được xem là giải pháp để cân bằng giữa nền kinh tế tư bản vốn được thúc đẩy chỉ bởi lòng tham thuần túy và sự phản tỉnh về mặt đạo đức. Tuy nhiên, ở đây không bàn về nội dung tác phẩm mà chỉ xem như một kênh tham khảo trong vấn đề này.
Trong Phật giáo, tiền bạc tự nó vốn không mang bản chất xấu, mà vấn đề nằm ở cách thức tạo ra và thái độ tiếp cận. Người Phật tử hoàn toàn có quyền làm giàu một cách chính đáng và có thể thụ hưởng một cuộc sống thịnh vượng, nếu điều đó không đi ngược lại những giá trị đạo đức căn bản. Dĩ nhiên, Tăng sĩ Phật giáo sẽ không lệch lạc đến mức khi hướng Phật tử trở thành tín đồ của chủ nghĩa sùng bái vật chất vốn được xem như tinh thần của chủ nghĩa tư bản. Nhưng rõ ràng, việc đạt được một đời sống lành mạnh và thánh thiện thậm chí sẽ trở nên dễ dàng hơn nếu con người có một nguồn tài chính ổn định. Nhưng đặt vấn đề trở lại, rằng điều này liệu có kích thích con người tăng trưởng lòng tham như Schumacher đã đề cập? Thì chính bản thân ông đã trả lời, rằng Phật giáo khác với Marxist, không xem tư hữu là xấu xa vì nó không ít thì nhiều có liên hệ đến nghiệp quả của từng cá nhân, miễn là lợi tức này làm ra bằng các phương tiện chính đáng và hợp pháp.
Thực ra, nhìn sâu hơn, khi đặt trên nền tảng đạo đức, kinh tế học Phật giáo không chỉ tránh được tình trạng “bóc lột” hoặc “gây tổn hại” đến lợi ích của kẻ khác, mà còn có thể điều phối được sự hài hòa và cùng bền vững trong sự phát triển. Bởi xuất phát từ ý niệm về một “nguồn lợi nhuận sạch” y cứ từ căn bản giáo lý “Chánh mạng”, thay vì sử dụng các phương thức thiếu lành mạnh bằng cách làm tổn hại đến lợi ích người khác, kinh tế Phật giáo có thể cung ứng tinh thần “trong sạch” cho việc làm giàu một cách chính đáng mà không vi phạm những giá trị đạo đức. Những cam kết từ đạo đức Phật giáo vì thế sẽ không cho phép họ bước qua giới hạn của lằn ranh bảo vệ tính lành mạnh. Người Phật tử qua đó có thể góp phần tạo nên một môi trường tích cực trong các hoạt động kinh tế, bởi lợi ích của người này không thể có được từ sự tổn hại của kẻ khác. Đó là nguyên tắc căn bản trong đạo đức Phật giáo, quyền lợi chung của cộng đồng vì thế sẽ được đảm bảo trong tinh thần tất cả đều có lợi.
Dĩ nhiên, quan điểm này có thể bị nhận xét là mang hơi hướng lý tưởng hóa hay thậm chí là không tưởng, bởi sự tàn khốc của thị trường không dễ dàng dung chứa những bài học đạo đức. Dù Max Weber có chứng minh ý nghĩa của đạo đức tôn giáo trong kinh tế, nhưng quá trình hiện đại hóa dường như đã khiến yếu tố đạo đức bị lu mờ dần, lợi nhuận mới là mục đích tối ưu thay vì chịu sự ràng buộc của đạo đức. Tuy vậy, trong một thế giới đầy rẫy sự bất ổn và biến động với những xung đột, nạn đói, sự chênh lệch giàu nghèo… thì kinh tế học Phật giáo ngoài nền tảng đạo đức còn có tinh thần cộng lợi cũng có thể được xem là một giải pháp đáng để tham khảo. Tất nhiên, điều đó cần có thời gian để chứng minh được tính hiệu quả, nhưng nếu được áp dụng, ít ra nó cũng cho thấy những triển vọng nhất định trước mắt.
Và thực ra, người ta có thể hy vọng điều này nếu nhìn qua trường hợp đơn cử như việc Michael Roach đã áp dụng triết lý Phật giáo vào công việc kinh doanh kim cương, và việc tập đoàn của ông đã từng thu về hàng trăm triệu đô la mỗi năm đã chứng minh được “nguồn lợi nhuận sạch” là thứ hoàn toàn có thể tạo ra. Do đó, vấn đề là con người khai thác tinh thần Phật giáo để áp dụng vào lĩnh vực kinh tế dưới góc độ nào, tức động cơ thúc đẩy phát triển là từ sự tham lam cá nhân hay từ tinh thần kiến tạo cộng lợi.
Trên cơ bản, từ tinh thần kinh tế học Phật giáo, ở đây có thể rút ra ba kết luận căn bản. Thứ nhất, sự thịnh vượng kinh tế là nhu cầu chính đáng của người Phật tử, được đặt trên nền tảng đạo đức nên việc làm giàu được tạo ra từ môi trường lành mạnh, điều này góp phần kiến tạo và thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Thứ hai, khi người Phật tử đạt được sự thịnh vượng thì vấn đề còn lại chính là thái độ đối với tiền bạc, họ sẽ biết cách để kiểm soát và cân bằng khi không lao theo đồng tiền; bởi nhu cầu là vô tận, vì thế họ sẽ không tuyệt đối hóa giá trị của nó. Thứ ba, bởi tiền bạc vốn mang chức năng công cụ để tiện nghi hóa đời sống vật chất, nên đó không phải là điểm dừng cuối cùng trong lý tưởng sống; khi tiện nghi vật chất đã được đáp ứng thì việc hướng đến một đời sống tinh thần hướng thượng là điều tất yếu.
Tóm tại, mục đích cuối cùng của nền kinh tế Phật giáo là góp phần kiến tạo nên một đời sống lý tưởng trọn vẹn, cân bằng cả vật chất lẫn tinh thần đến với tín đồ và xã hội. Thiếu sót một trong hai nhu yếu trên đều đưa đến sự mất cân đối trong đời sống thực tiễn, điều đó sẽ gây ra ảnh hưởng xấu đến con đường nhập thế của Phật giáo.
Đạo Hy
[1] Adam Smith được xem là ông tổ của kinh tế học hiện đại.
[2] Xem Senaka Weeraratna. (2024). Xây dựng nền kinh tế học Phật giáo. (Thích Vân Phong dịch). Tạp chí nghiên cứu Phật học. (ra ngày 22-3).
[3] Paul Williams. (2022). Nền tảng Phật giáo Đại thừa. (Thích Thiện Chánh dịch). Huế: Thuận Hóa. tr.288.
[4] Xem Kinh Hổ kính (Dīghajāṇu sutta) - thuộc Tăng chi bộ, Kinh Giáo thọ Thi-ca-la-việt (Sigālovāda sutta) - thuộc Trường bộ…
[5] Tuệ Sỹ. (2016). Nền tảng Kinh tế học theo cách nhìn Phật giáo (Tuệ Sỹ văn tuyển - tập II). (Hạnh Viên sưu tập). Hà Nội: Hồng Đức. tr.283.
[6] Xem Nhất Hạnh. (1965). Hiện đại hoá Phật giáo. Saigon: Lá Bối.
[7] Tác phẩm được dịch ra 27 thứ tiếng, được The Times Literary Supplement đánh giá là một trong 100 cuốn sách có ảnh hưởng nhất thế giới sau Thế chiến II.


Bình luận