top of page

Hệ quả mối tương quan kinh tế - tôn giáo

  • Ảnh của tác giả: ĐẠO HY
    ĐẠO HY
  • 1 thg 4
  • 10 phút đọc

Đã cập nhật: 19 thg 4


Trước khi đưa con người đến thế giới huyền nhiệm, thì tôn giáo vẫn phải gắn liền với mọi hoạt động xã hội trần thế. Nó dần trở nên thế tục hóa để bước vào hiện thực, và như thế là đã rời bước khỏi tinh thần khởi điểm để can thiệp sâu hơn đến cuộc đời. Do đó, khi tôn giáo khởi xuất từ giai đoạn phôi thai với tinh thần thuần túy ở buổi ban đầu để bước sang giai đoạn được định chế chặt chẽ thông qua cơ cấu tổ chức (Giáo hội), trong tầm chi phối của mình, sự tác động của tôn giáo đến quan điểm kinh tế ngày càng trở nên ảnh hưởng.


Bước vào ngự trị tinh thần xã hội, tôn giáo ra sức củng cố cho vị thế to lớn của mình thông qua sự ràng buộc từ chính trị, giáo dục và đạo đức. Và cũng chính từ ý nghĩa đạo đức, trên cơ bản, thái độ “xem nhẹ” kinh tế của tôn giáo đã đặt lĩnh vực này ra khỏi mối quan tâm của mình. Động lực cho sự thịnh vượng kinh tế, trong quan điểm của hầu hết các tôn giáo đều gắn liền với lòng tham, và tất nhiên không tôn giáo nào chấp nhận các khuynh hướng đi ngược lại đạo đức khi tiếp tay cổ súy cho “cái xấu”. Và như thế, tôn giáo dù không trực tiếp đi vào các hoạt động kinh tế, nhưng tinh thần tôn giáo đã chi phối ý thức kinh tế của một xã hội thông qua lượng tín đồ đông đảo của mình. Các xã hội đã từng bị chi phối mạnh mẽ bởi tôn giáo như châu Âu với Kitô giáo, Trung Hoa với Nho giáo, thế giới Ả-rập với Hồi giáo, hay một số quốc gia tại Đông Nam Á với Phật giáo… chính là những mẫu xã hội điển hình cho mối tương quan này.  

Thế giới hôm nay vẫn hay nhầm lẫn sự phát triển của châu Âu khi đặt xã hội này trong tương quan với Công giáo La Mã. Và suy diễn ra, các xã hội mà Công giáo chiếm lĩnh thường có mức kinh tế ổn định hơn, có đời sống “văn minh” hơn so với cộng đồng xã hội của các tôn giáo khác. Thực ra, ngay trong thời kỳ hoàng kim của Công giáo La Mã dưới thời trị vì của Giáo hoàng Innocent III (1160-1216), kinh tế, pháp luật cũng như các thành tựu khác tại châu Âu yếu hơn rất nhiều so với các khu vực khác trong cùng thời điểm. Sự phát triển của châu Âu là bắt đầu từ sau giai đoạn Phục hưng, khi Giáo hội mất dần uy quyền thống trị, khoa học lên tiếng và đi vào con đường phát triển, nền kinh tế tư bản qua đó mới bắt đầu được định hình và trở thành xu hướng của thời đại. Cái gọi là “văn minh phương Tây”, nếu không muốn nói ngược lại, chỉ thực sự bùng nổ sau khi rời khỏi trục xoáy của Công giáo. Dĩ nhiên, trong một khía cạnh ngược lại, tính chuyên chế của nền thần quyền cũng là nhân tố kích thích sự tìm tòi và phát kiến của khoa học, điều đó tạo ra những biến đổi lớn cho nhận thức xã hội, cũng như tạo đà thúc đẩy cho sự phát triển của kinh tế. Tuy vậy, đó có thể là góc nhìn cởi mở của xã hội ngày nay, nhưng chưa chắc là điều mà Giáo hội mong muốn.     

Tương tự, sự kìm hãm đà phát triển kinh tế của một quốc gia trong giai đoạn cận đại được chứng minh thông qua sự ảnh hưởng từ tinh thần Khổng giáo đến các quốc gia Đông Á nói chung. Rõ ràng, với vai trò lịch sử trong hàng nghìn năm tại vùng đất Đông Á, Nho giáo đã định vị thế đứng của mình trong vai trò là kẻ hoạch định cho sự ổn định. Tuy nhiên, xã hội không chỉ có nhu cầu ổn định mà còn hướng đến sự phát triển, và phát triển thì luôn gắn liền với sự đổi mới và sáng tạo. Nhưng với hình thức đóng khung bởi tính bảo thủ cứng nhắc, thứ tinh thần này đã làm chết đi nhuệ khí phát triển của đất nước. Mảnh đất Đông Á dưới sự thống trị của Nho giáo trong cả nghìn năm qua không có chỗ đứng cho tính cá biệt, tất cả đều phải đặt trong định khung truyền thống của nền quân quyền. Sự quay lưng với Nho giáo của xã hội Đông Á từ nửa cuối thế kỷ XIX chính là phản ứng tất yếu cho con đường đổi mới mà các quốc gia này trong thế phải bắt kịp nhịp thay đổi của thời đại.

Với thế giới Ả-rập, Hồi giáo không khuyến khích phát triển kinh tế. Kinh Qur'an dù có những khuyến nghị thúc đẩy làm giàu, nhưng sự bảo thủ và cục bộ tại các quốc gia phần lớn đều khước từ ý nghĩa trên, ngoại trừ các quốc gia có tư tưởng tương đối cởi mở. Chủ nghĩa thế tục đối với thế giới Hồi giáo nói chung cho đến ngày nay vẫn là một thứ nằm ngoài ý niệm của họ, tinh thần tôn giáo chính là kim chỉ nam cho mọi hoạt động chính trị-xã hội, bởi đức tin mới là trên hết. Trong nhiều quốc gia, Hiến pháp được đặt trên nền tảng của kinh Qur'an, luật Shari'a thậm chí còn áp dụng vào xã hội dân sự và được thi hành triệt để. Sự ngự trị của tinh thần tôn giáo đã áp đặt vào mọi lĩnh vực xã hội, nhưng không giúp ích gì cho việc cải thiện đời sống vật chất tại nơi này, ngược lại còn kìm hãm đà phát triển kinh tế tại đây. Trừ một vài quốc gia sớm tỉnh thức và bước chân theo con đường hiện đại hóa; còn lại, sự nghèo đói và lạc hậu trên cơ bản vẫn là tình trạng chung trong thế giới Hồi giáo.     

Một cách nào đó, cái nhìn về vấn đề kinh tế của các quốc gia chịu sự ảnh hưởng của Phật giáo từ Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Tây Tạng, và đặc biệt là một số quốc gia Đông Nam Á đã làm lệch lạc, nếu không muốn nói là mâu thuẫn đối với hoạt động kinh tế. Tăng sĩ, vốn được quy định từ những quy tắc không hoạt động kinh tế đã tác động gián tiếp lên tinh thần người Phật tử. Và ảnh hưởng từ quy tắc đó, trong bản chất, giới Tăng sĩ qua các thời đại đều xem khía cạnh kinh tế chỉ là vấn đề thứ yếu và tất nhiên họ không đặt nặng vấn đề này, hay thậm chí là không bận tâm. Rất rõ ràng, các hình thức hoạt động truyền bá Phật giáo nói chung đều phớt lờ ý nghĩa kinh tế mà chỉ quan tâm về lý tưởng tôn giáo và luân lý xã hội, dù triết lý Phật giáo vẫn khuyến khích người tín hữu có thể làm giàu một cách chính đáng. Do đó, không có gì ngạc nhiên khi các xã hội hiện nay chịu sự ảnh hưởng của Phật giáo dù chưa có gì ổn định và cũng chưa đạt đến mức thịnh vượng, thậm chí một vài quốc gia còn ở mức độ lạc hậu, nhưng đã sớm khuyến khích tín đồ hướng đến tinh thần “biết đủ” và “buông bỏ”. Có thể nói, điều này tạo ra một hãm lực rất lớn, kéo trì lại đà phát triển kinh tế của các quốc gia dưới sự ảnh hưởng của tôn giáo này.    

Ngày nay, phần lớn các quốc gia thuộc thế giới Hồi giáo và một số quốc gia chịu ảnh hưởng của Phật giáo Thượng tọa bộ nhìn chung vẫn là “vùng trũng” kinh tế so với các khu vực còn lại trên thế giới. Tinh thần tôn giáo tại những nơi này không giúp ích cho sự thúc đẩy của quốc gia trên con đường phát triển, thậm chí sự thụ động từ tư tưởng tôn giáo cục bộ trong vấn đề kinh tế đã tạo ra sức trì làm giảm ý thức đổi mới tại nơi đây. Đối với các quốc gia vẫn chịu sự ảnh hưởng nặng về tôn giáo nói chung, quan điểm kinh tế theo đó cũng ảnh hưởng rất lớn bởi các cộng đồng tín hữu đông đảo, đặc biệt đối với một số quốc gia vẫn duy trì định chế “quốc giáo”. Qua đó, số phận kinh tế của các quốc gia này sẽ chịu sự lệ thuộc vào quan điểm kinh tế của tôn giáo nơi đây. Nói cách khác, tôn giáo sẽ gián tiếp quy định hướng đi của kinh tế và thường thì rơi vào tình trạng ảm đạm.  

Tuy nhiên, trên thực tế, sự kìm hãm trong vấn đề phát triển kinh tế dù đúng với đa số tôn giáo, nhưng không phải là tất cả. Bởi không phải mọi tôn giáo điều có góc nhìn về kinh tế như nhau, dù trên cơ bản tôn giáo khá “xem nhẹ” vấn đề kinh tế. Trải qua quá trình phát triển lâu dài, ý thức của tôn giáo về kinh tế đã có những chuyển biến nhất định. Những thay đổi này có thể xuất phát từ chính bản thân tôn giáo khi ý thức về vai trò của mình trong bối cảnh xã hội mới như trường hợp của phái Kháng cách (Tin lành); hay thậm chí xuất phát từ chủ trương của nhà cầm quyền hướng đến khôi phục và phát huy những giá trị của tôn giáo truyền thống vào sự phát triển xã hội cũng như kinh tế như trường hợp của Nho giáo. 

Văn minh phương Tây hiện đại được định hình bởi sự trưởng thành từ các giai đoạn thông qua những cơn biến động tôn giáo và chính trị-xã hội trước đó, trong đó sự ra đời của đạo Tin Lành vào thế kỷ XVI đã góp phần không nhỏ cho việc kích thích phát triển của chủ nghĩa tư bản. Ngược lại với quan điểm thông thường từ chủ nghĩa duy vật lịch sử khi xem chủ nghĩa tư bản là sản phẩm của sự bất công xã hội theo tính áp chế giai cấp thuần túy, xuất phát từ lòng tham vô độ và sự bất nhân, thì Max Weber trong Nền đạo đức Tin Lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản đã nói về ảnh hưởng tôn giáo là động lực khởi sinh chủ nghĩa tư bản. Dĩ nhiên, ông rất thận trong nghiên cứu của mình khi không tuyệt đối hóa yếu tố tôn giáo, nhưng bên cạnh những động lực quan trọng khác đã thúc đẩy sự hình thành chủ nghĩa tư bản, thì nền đạo đức Tin lành lại đóng vai trò then chốt trong vấn đề này. Điều đó lý giải tại sao chủ nghĩa tư bản chỉ ra đời tại châu Âu cận đại mà không xuất hiện ở nơi nào khác trên thế giới. Từ đó, ông đưa ra góc nhìn về mối liên hệ giữa hai hình thái tôn giáo và kinh tế trên: “không phải giáo thuyết đạo đức của một tôn giáo, mà chính là lối ứng xử đạo đức mà giáo thuyết đó quy định, mới mang lại các lợi lộc về mặt tâm lý. Các lợi lộc đó, tùy theo [cái mà mỗi tôn giáo cho là] lợi lộc của sự cứu rỗi, tạo ra cái “ethos” đặc thù của tôn giáo đó, theo nghĩa xã hội học của từ ethos này. Đối với giáo phái Puritanist, lối ứng xử đó là một lối sống được quyết định một cách có phương pháp và thuần lý, lối sống đó - trong những điều kiện nhất định - đã mở đường cho “tinh thần” của chủ nghĩa tư bản hiện đại”[1].    

Có thể nói, đạo Tin Lành (Weber nhấn mạnh đến phái Kelvin) vốn nhấn mạnh tinh thần cá thể khi khước từ sức mạnh của định chế tổ chức (Giáo hội La Mã) và lễ nghi phức tạp lại rất phù hợp với sự phát triển của kinh tế tư nhân trong chủ nghĩa tư bản và tinh thần duy lý của xã hội Tây phương. Có thể nói, quan điểm trên của Weber đã mở ra một góc nhìn mới, buộc người ta phải thực sự xem xét một cách thận trọng về mối quan hệ giữa tôn giáo và kinh tế, ít nhất là ghi nhận ảnh hưởng tôn giáo trong vai trò thúc đẩy hay kìm hãm đà phát triển kinh tế của xã hội.

Với Nho giáo, định chế chuyên quyền thống trị quốc gia sau cả nghìn năm đưa xã hội Trung Hoa vào trật tự ổn định, thì đến đầu thế kỷ XX đã tỏ ra rệu rã và bất lực trước sự tấn công như vũ bão của văn minh phương Tây. Trước sự tiến bộ vượt bậc đặc biệt về khoa học kỹ thuật, Nho giáo đã tỏ ra lép vế và dần lùi bước nhường sân cho các giá trị của Tây phương thống trị xã hội. Tuy vậy, Trung Quốc sau cơn ngủ say khi trải qua tình trạng ảm đạm đã trở lại với vị thế là một đại cường đúng với địa vị lịch sử của họ. Có thể nói, tinh thần trọng thực tiễn của Nho giáo vốn đã nuôi dưỡng xã hội Trung Hoa khi có thể kích thích quốc gia này dám nhìn và thực trạng xã hội để thay đổi, từ đó dễ dàng học hỏi và tiếp cận những điều mình còn thiếu sót. Vì vậy, khi đã ý thức được vấn đề và nắm bắt được thời cơ, việc phát triển sẽ được thúc đẩy một cách ngoạn mục. Sự “hóa rồng” của Trung Quốc cũng như một vài quốc gia Đông Á phần nào chứng minh được giá trị mà Nho giáo đã đem lại trong sự phát triển kinh tế tại tại nơi đây.  

Trên cơ bản, các tôn giáo nói chung thông qua chức năng chuẩn hóa và định hướng hành vi đạo đức đã tác động gián tiếp đến các hoạt động kinh tế. “Đạo đức” ở đây có thể được hiểu theo nghĩa rộng như: lòng trung thực, sự tiết kiệm, tính kỷ luât, sự tin tưởng, đạo đức nghề nghiệp nói chung… Những đức tính này đều quan trọng và rất cần thiết trong mọi lĩnh vực của kinh tế, tác động trực tiếp đến năng suất lao động cũng như chất lượng sản phẩm. Như vậy, thông qua hệ thống hành vi đạo đức, tôn giáo sẽ tác động gián tiếp vào hiệu quả kinh tế. 


Có thể thấy, tình trạng phát triển hay lạc hậu của một quốc gia không chỉ phụ thuộc vào sự điều phối chung trong chính sách kinh tế của chính phủ, mà còn bị tác động bởi tinh thần tôn giáo. Đặc biệt, khi tôn giáo được định vị là nền tảng văn hóa, và trở thành nhu yếu cho đời sống tinh thần của xã hội thì sự ảnh hưởng của tôn giáo đến kinh tế là không nhỏ. Ngày nay, sự thừa nhận vai trò của tôn giáo trong vấn đề phát triển kinh tế đã trở nên phổ biến hơn trong nhận thức xã hội. Và như đã nói, tôn giáo dù không có chức năng kinh tế, nhưng qua sự tác động gián tiếp, tinh thần tôn giáo ảnh hưởng đến não trạng kinh tế là điều không thể phủ nhận. Như vậy, trong một chừng mực nhất định, ý thức tôn giáo có thể định hướng quốc gia về khát vọng cho sự phồn vinh; ngược lại, cũng có thể nhấn chìm quốc gia trong sự an phận.   


Đạo Hy


[1] Max Weber. (2008). Nền đạo đức Tin lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản. (Bùi Văn Nam Sơn & cộng sự dịch). Hà Nội: Tri thức. tr.370.   

Bình luận


LIÊN HỆ
​daohy1711@gmail.com

  • Black Facebook Icon
  • Black Twitter Icon
  • Black YouTube Icon

© 2026 ĐẠO HY
​Mọi quyền được bảo lưu

bottom of page