top of page

Tôn giáo và kẻ nghèo

  • Ảnh của tác giả: ĐẠO HY
    ĐẠO HY
  • 27 thg 3
  • 6 phút đọc

Đã cập nhật: 1 thg 5


Tôn giáo ra đời để “cứu rỗi loài người”; và đối tượng đầu tiên được hướng đến chính là những kẻ khốn cùng, những giai cấp thấp hèn mạt hạng. Trong truyền thống, những con người bần cùng đói khổ, sống trong áp chế nô lệ, và bị đặt bên lề xã hội luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt trong ý thức tôn giáo. Họ đại diện cho tầng lớp yếu thế, không có tiếng nói, mà thậm chí ngay chính mạng sống cũng trở nên mong manh trong những nền chuyên chế khắc nghiệt. Và tinh thần tôn giáo đến với những con người khốn khổ này như làn gió mát xoa dịu nỗi đau của hiện thực cuộc sống. Ở đó, họ nhận được sự cảm thông và tôn trọng trong tinh thần bình đẳng, được cho biết rằng mọi người, kể cả họ, đều mang nơi mình những giá trị căn bản như nhau.


Sự an ủi và vỗ về của tôn giáo ngay lập tức tạo thành hiệu ứng lan rộng, họ tìm thấy nhau trong thân phận của những kẻ cùng khổ, chia sẻ cùng nhau những đau thương mà cuộc đời đã đè trên đôi vai họ bằng kiếp sống đọa đày. Từ trên cao, Thiên chúa nhìn xuống loài người với ánh mắt đầy thương xót trước những chia rẽ, xiềng xích và bất công khi loài người đã làm trái với ý ngài. Giáo hội, đại diện cho tinh thần Thiên chúa sẽ ban phát cho những kẻ khốn cùng kia niềm tin và hy vọng, hãy sống thiện lương để nhận được ân sủng. Vương quốc tinh thần sẽ mở cửa để đón tiếp những tâm hồn khốn khổ đáng thương này, tôn giáo trở thành mái nhà của người nghèo khổ.   

Có thể nói, ngoài chức năng điều chỉnh hành vi đạo đức, định hướng về mặt nhận thức, thì tôn giáo còn có vai trò như một liệu pháp tâm lý, an ủi và xoa dịu nỗi thống khổ của con người. Không riêng gì các tôn giáo nhất thần, thực ra sự xuất hiện của Phật giáo cũng một phần quan trọng mang trong mình tinh thần nhân bản đó. Dĩ nhiên, trong bản chất triết học, Phật giáo mang màu sắc khác biệt hoàn toàn so với các tôn giáo còn lại; nhưng dưới lăng kính xã hội học, sự ra đời của các tôn giáo đều mang ý nghĩa nhân văn tương đối giống nhau. Có thể thấy, hình ảnh Phật giáo trong xã hội Ấn Độ, Kitô giáo trong xã hội La Mã, hay Hồi giáo trong thế giới Ả-rập… đều mang sứ mệnh chung là chia sẻ sự đau thương với những con người cùng khổ, trao cho họ một niềm hy vọng, gợi lên một con đường tươi sáng trong những xã hội đầy rẫy sự tối tăm và tù đọng. Dù phương thức có khác biệt, nhưng tinh thần hướng đến một xã hội tiến bộ, trên cơ bản là đồng nhất.   

Tôn giáo vì thế đã chính thức đứng ra bênh vực cho những thân phận thấp hèn. Và qua hành động đó, tôn giáo đã trực tiếp hoặc gián tiếp lên án những bất công và áp chế hà khắc của xã hội lên đời sống của con người bị đối xử như những nô lệ cùng đinh. Dù là con người, nhưng trong những xã hội bán khai, giá trị của họ không khác gì món hàng trao đổi. Và trên kia, những kẻ uy quyền và giàu có ngồi nhìn xuống đám nô lệ hôi hám và nhoẻn miệng cười, xem đó là một định mệnh của số phận mà chẳng có gì phải bận tâm. Rằng những kẻ ti tiện này phải có bổn phận phục dịch và không nên có ý chống đối lại định phận. Những lưỡi kiếm và đòn roi luôn được chực chờ nếu có dấu hiệu của sự nổi loạn. Đó chính là trật tự mà những kẻ uy quyền và giàu có luôn muốn thiết lập để ngự trị.   

Vì thế, có lý do để tinh thần tôn giáo thường quay lưng với sự giàu có, bởi hiếm có sự giàu có nào mà không nhuốm màu của tội ác. Do đó, những kẻ giàu có đôi khi lại là biểu tượng cho hình ảnh của những áp bức, tội lỗi. Họ dùng quyền lực và tiền bạc để tiếp tục tạo ra quyền lực và tiền bạc, họ dẫm đạp trên xương máu của những kẻ khốn cùng, vô cảm trước nỗi đau nhân sinh chỉ để vun bồi cho đời sống tư lợi. Đó chính là lý do mà dưới cái nhìn của tôn giáo, đời sống thiên hướng về vật chất thường đi kèm với sự sa đọa và tha hóa, nó đi ngược lại với những rao giảng đạo đức mà tôn giáo hằng truyền. Tôn giáo, vì thế sẽ cảm thấy gần gũi với những người khốn khổ hơn so với những kẻ giàu có. Và hơn nữa, sự giàu có, dù xét trong khía cạnh nào, cũng gần như vô nghĩa trong mục đích cao vời của tinh thần tôn giáo nói chung, mà thậm chí, nó còn được xem là biểu hiện cho sự đáng ngờ vực về mặt đạo đức. 

Tất nhiên, tôn giáo cũng đề cập đến sự giàu có, nhưng cũng rất thận trọng. Ở đó thường gắn liền với những lời cảnh cáo hơn là sự khuyến nghị. Người giàu luôn nhận một ánh nhìn nghiêm khắc từ tôn giáo, rằng hãy sống thiện lương hơn, vị tha hơn. Đạo đức mới là chân giá trị được đặt lên hàng đầu, và đời sống kinh tế chỉ là vấn đề thứ yếu, cuộc sống đầy đủ vật chất không phải là điều quá cần thiết cho ý nghĩa nhân sinh. Bởi đối với tôn giáo, đời sống hiện tại chỉ mang tính tạm thời, và tất nhiên, không cần phải quá cố công vun đắp cho cái mà ta biết rồi đây cũng chẳng đi cùng ta sang bên kia thế giới. Đời sống vật chất dường như trở nên tạm bợ và thậm chí tầm thường khi nhìn về cuộc sống vĩnh hằng phía trước. Vì thế giới bên kia mới là điểm đến đích thực, là mục đích cho ý nghĩa nhân sinh, và là giá trị cứu cánh cho mọi hoạt động của hiện thế.

Trong ý nghĩa này, thực ra, không riêng gì tôn giáo mà ngay cả trong triết học, hầu hết các nhà tư tưởng từ Đông sang Tây trong mọi thời đại đều có khuynh hướng khinh bạc đời sống vật chất. Thật kỳ lạ, họ có thể mở rộng góc nhìn của mình để tham chiếu trên nhiều lĩnh vực từ vật lý cho đến tâm lý, từ đạo đức cho đến pháp quyền, từ văn hoá cho đến nghệ thuật… nhưng lại vứt bỏ kinh tế. Trong thế giới của triết gia, về phương diện này, Marx có lẽ là một trường hợp ngoại lệ.


Như vậy, người ta có thể nhận ra vai trò của tôn giáo trong phương diện tư tưởng và đạo đức đối với xã hội. Trải qua lịch sử hàng nghìn năm tồn tại, những giá trị trên được kế thừa bởi nhiều thế hệ nối tiếp, và chúng trở thành trầm tích văn hóa, chiếm ngự một vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của con người qua nhiều thời đại. Và kinh tế, trong một chừng mực nào đó, nếu có, cũng chỉ được gợi lên một cách mờ nhạt, nó dường như không phải là mối bận tâm trong tinh thần tôn giáo nói chung. Dĩ nhiên, bởi nhu yếu kinh tế không phải là chức năng của tôn giáo nếu xét từ mặt bản chất.

Tuy vậy, khi tinh thần tôn giáo chính thức bước vào cuộc đời và trở nên phổ cập trong đời sống xã hội, dù không mang nơi mình chức năng kinh tế nhưng ý thức tôn giáo vẫn sẽ tác động gián tiếp đến quan điểm kinh tế. Và bằng vị thế của mình, đặc biệt trong những xã hội với định chế “quốc giáo”, tôn giáo qua đó sẽ quy định sự kích thích hay kìm hãm sự phát triển kinh tế của xã hội đó.


Đạo Hy

Bình luận


LIÊN HỆ
​daohy1711@gmail.com

  • Black Facebook Icon
  • Black Twitter Icon
  • Black YouTube Icon

© 2026 ĐẠO HY
​Mọi quyền được bảo lưu

bottom of page