Điểm sách: Lý thuyết kiến tạo qua tác phẩm “Sự va chạm của các nền văn minh”
- ĐẠO HY

- 31 thg 7
- 27 phút đọc
Đã cập nhật: 2 ngày trước

DẪN NHẬP
Samuel P. Hungtington (1927-2008) là một nhà nghiên cứu chính trị xuất chúng của Hoa Kỳ, nổi tiếng qua tác phẩm Clash of civilizations, xuất bản năm 1996, được dịch qua tiếng Việt với tựa: Sự va chạm của các nền văn minh. Qua đó, tác giả đã đưa ra bối cảnh về bức tranh chung của các nền văn minh trên thế giới, và khẳng định các xung đột sau giai đoạn Chiến tranh Lạnh sẽ xuất hiện thường xuyên, sự “va chạm” đó đến từ những khác biệt to lớn về văn hóa chứ không phải ý thức hệ.
Hungtington không phải là người đầu tiên nói về sự va chạm của các nền văn minh. Ý tưởng và sự cảnh báo về sự đụng độ giữa các nền văn minh đã xuất hiện ngay từ giữa thế kỷ XX, do nhà sử học lừng danh Arnold Toynbee đề cập. Sau này, Hungtington tiếp tục hệ thống hoá, điều chỉnh và phát triển những dự báo này khi đặt trong một bối cảnh mới. Và dù được viết cách đây trên hai mươi năm, nhưng cuốn sách vẫn tiếp tục chứng tỏ được thẩm quyền của nó cả về phương diện học thuật lẫn giá trị thực tiễn.
Với luận điểm kết thúc Chiến tranh Lạnh không phải là sự kết thúc của lịch sử, chính thức phản biện lại quan điểm “việc đã rồi” trước thuyết định mệnh lịch sử mà Francis Fukuzama đã đề cập trước đó. Sự mở rộng thương mại, kết nối văn hóa thông qua toàn cầu hóa không chắc đem lại hòa bình, ngược lại, dẫn đến nhiều nguy cơ xung đột bởi “văn hóa vừa là sức mạnh đoàn kết, vừa là sức mạnh chia rẽ”. Qua đó, tác phẩm làm sáng tỏ những khúc mắc phức tạp trong tiến trình chính trị thế giới, và rõ ràng nó đã mang lại một bệ phóng tri thức dự báo cho các chính sách hiện đại.
NỘI DUNG
1. Định vị các nền văn minh
Francis Fukuzama trong lý thuyết Kết thúc lịch sử (The end of history and the last man) cho rằng: “Chúng ta có thể chứng kiến sự kết thúc của lịch sử như thế này: đó là sự kết thúc của quá trình tiến hóa ý thức hệ nhân loại và việc phổ cập dân chủ tự do phương Tây như là hình thức trị vì nhân loại cuối cùng” (P.Huntington, 2016, tr.26). Huntington ngay sau đó đã đáp trả Francis Fukuzama là “lạc quan quá sớm”, vì Chiến tranh Lạnh kết thúc chỉ có thể đưa đến một thế giới tương đối hài hòa, chứ không phải là chính trị thế giới đã trật tự. Chiến tranh Lạnh kết thúc đã mang lại ảo tưởng về sự hòa hợp.
Ông cho rằng, trong thế giới mới này, các cuộc xung đột dữ dội, quan trọng và nguy hiểm nhất không phải giữa các tầng lớp xã hội, giữa giàu và nghèo mà giữa các dân tộc thuộc về các chỉnh thể văn hóa khác nhau. Vì thế cách tiếp cận xoay quanh ý thức hệ chính trị và kinh tế đã trở nên lỗi thời bối cảnh chính trị hiện đại, trật tự thế giới sẽ được hiểu với tinh thần: “chính trị địa phương là chính trị của sắc tộc; chính trị thế giới là chính trị của các nền văn minh” (P.Huntington, 2016, tr.20). Không giống Chiến tranh Lạnh, không tồn tại một sự phân chia duy nhất giữa hai phe mà có nhiều sự phân chia giữa phương Tây với các nền văn minh khác, và giữa các các nền văn minh ngoài phương Tây với nhau.
Huntington dẫn lời Ngoại trưởng Henry Kissinger: “hệ thống quốc tế thế kỷ XXI sẽ có ít nhất sáu cường quốc - Hoa Kỳ, châu Âu, Trung Quốc, Nhật Bản, Nga, và có thể Ấn Độ - đồng thời cũng xuất hiện nhiều hơn nữa các nước tầm trung và nhỏ hơn” (P.Huntington, 2016, tr.20). Sau khi tổng kết hợp các quan điểm và nêu ra những điều kiện để tạo nên một nền văn minh thì Huntington đã đi đến kết luận khi cho rằng: “ít nhất hai mươi nền văn minh, bảy trong số đó không còn tồn tại (Lưỡng Hà, Ai Cập, Cretan, Cổ đại, Byzantine, Trung Mỹ, Andes) và năm nền văn minh vẫn còn tồn tại (Trung Hoa, Nhật, Ấn Độ, Hồi giáo, và phương Tây). Cùng với năm nền văn minh này cần bổ sung các nền văn minh đương đại là Chính Thống giáo, Mỹ Latin và có thể châu Phi” (P.Huntington, 2016, tr.52).
Một điểm chú ý là các hệ tư tưởng lớn của thế kỷ XX bao gồm chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa vô chính phủ, chủ nghĩa cộng sản, và dân chủ Cơ Đốc giáo. Tất cả đều có một điểm chung: là sản phẩm của văn minh phương Tây. Có thể thấy rằng, không có một nền văn minh nào khác lại sản sinh ra một lượng ý thức hệ đáng kể như văn minh phương Tây.
2. Cán cân quyền lực giữa các nền văn minh
Thế giới ngày càng hiện đại hóa nhưng không có nghĩa là phương Tây hóa, bởi các xã hội ngoài phương Tây vẫn có thể hiện đại hóa mà không từ bỏ bản sắc của mình. Do đó, thật ngây thơ khi cho rằng “chiến thắng của văn minh hiện đại” sẽ chấm dứt tính đa dạng của văn hóa. Thậm chí, “hiện đại hóa, ngược lại sẽ củng cố các nền văn hóa đó và giảm bớt sức mạnh tương đối của phương Tây. Về cơ bản, thế giới đang hiện đại hơn và bớt phương Tây hơn” (P.Huntington, 2016, tr.111).
Dẫu vậy, thực tế để nhận thấy rằng văn minh phương Tây vẫn thống lĩnh sức mạnh và ảnh hưởng bao phủ. Tuy nhiên, những thay đổi căn bản, từng bước và không thể đảo ngược, cũng đang diễn ra trên cán cân quyền lực giữa các nền văn minh. Có thể thấy, “chiến thắng của phương Tây trong Chiến tranh Lạnh không mang lại vinh quang mà là một sự mệt mỏi. Phương Tây ngày càng phải quan tâm đến các vấn đề và nhu cầu nội bộ của nó, khi phải đối mặt với kinh tế tăng trưởng chậm, dân số dậm chân tại chỗ, thất nghiệp, tỉ lệ tiết kiệm thấp, và xuất hiện ở nhiều nước, kể cả Hoa Kỳ, sự phân rã của xã hội, ma túy và tội phạm. Sức mạnh về kinh tế đang chuyển nhanh về Đông Á, sức mạnh quân sự và ảnh hưởng chính chính trị cũng đang bắt đầu theo sau. Ấn Độ đang tiến dần tới sự cất cánh về kinh tế, và thế giới đạo Hồi đang ngày càng trở nên thù địch với phương Tây” (P.Huntington, 2016, tr.117). Những sự dịch chuyển về sức mạnh của các nền văn minh đang mang lại sự hồi sinh và khẳng định mạnh mẽ của các nền văn hóa xã hội ngoài phương Tây, ngày càng dẫn đến sự bài trừ văn hóa phương Tây.
Các xã hội phi phương Tây, đặc biệt ở Đông Á, đang phát triển sức mạnh kinh tế và xây dựng nền móng cho sức mạnh quân sự, ảnh hưởng chính trị. Một khi sức mạnh và lòng tự tin của họ tăng lên, các xã hội phi phương Tây này ngày càng khẳng định giá trị văn hóa của riêng họ và dĩ nhiên là tiến đến sự chối bỏ những gì phương Tây áp đặt. Hệ quả cuối cùng đó chính là một cuộc Phục hưng văn hoá như lời đại sứ Tommy Koh nhận xét năm 1993 đang lan tràn khắp châu Á, rằng từ nay người châu Á “không còn coi tất cả những gì của phương Tây hoặc của Mỹ là tốt nhất” (P.Huntington, 2016, tr.160). Họ sẽ là chính họ, sẽ đặt mình vào vị trí khác biệt và có thể là đối đầu.
Bên cạnh đó, bản địa hóa trở nên thịnh hành ở khắp các nước ngoài phương Tây trong những năm 1980 và 1990. Sự phục sinh của đạo Hồi và tái Hồi giáo hóa là vấn đề trung tâm của các xã hội Hồi giáo. Ở Ấn Độ, xu thế thịnh hành là bài trừ các giá trị và mô hình của phương Tây, Hindu hóa chính trị và xã hội. Ở Đông Á, nhiều chính phủ đề cao Nho giáo, những nhà lãnh đạo chính trị và trí thức bàn về vấn đề Á hóa quốc gia của họ.
Theo Huntington, đầu thế kỷ XX, trí thức Trung Quốc xác định Khổng giáo là nguồn gốc của lạc hậu. Cuối thế kỷ XX, các nhà lãnh đạo chính trị Trung Quốc, cùng các nhà khoa học xã hội hân hoan chào đón Khổng giáo là nguồn gốc của tiến bộ. Và trong những năm 1980, chính phủ Trung Quốc bắt đầu đẩy mạnh quan tâm đến Khổng giáo là xu thế chính của văn hóa Trung Hoa.
Hay như Nhật Bản, sau Thế chiến II đã xác định bản sắc của mình gần với phương Tây. Giờ đây, “Nhật Bản muốn rời xa phương Tây, nhưng mức độ không mạnh như Trung Quốc quyết tâm đoạn tuyệt với mô hình Liên Xô. Mặt khác, tính độc đáo của nền văn minh Nhật Bản, tính trung tâm của kinh tế Trung Quốc ở hầu hết các nước châu Á khác cũng làm cho Nhật Bản dễ dàng tách khỏi phương Tây hơn là hòa nhập với châu Á. Qua việc tái khẳng định bản sắc văn hóa, Nhật Bản khẳng định tính độc đáo và những khác biệt của mình với cả văn hóa phương Tây và các nền văn hóa châu Á khác” (P.Huntington, 2016, tr.165).
Trong khi người châu Á khẳng định mình qua thành công của sự phát triển kinh tế, thì người Hồi giáo lại hướng về bản sắc để tìm lại ý nghĩa của sự ổn định, sức mạnh và hy vọng. Hồi giáo đối với họ không chỉ là tôn giáo mà còn là lối sống, sự phục sinh Hồi giáo đã ảnh hưởng đến các khía cạnh xã hội và chính trị ở hầu hết các quốc gia Hồi giáo. Nói như giáo sư John Esposito: “sự hồi sinh rộng rãi này cũng được thể hiện trong đời sống cộng đồng: ngày càng có nhiều chính phủ, tổ chức, luật pháp, ngân hàng, các dịch phụ phúc lợi xã hội và các định chế giáo dục có thiên hướng Hồi giáo. Các chính phủ và các phong trào đối lập đều hướng đến Hồi giáo để củng cố quyền lực và thu hút sự ủng hộ của người dân… Hầu hết các nhà cầm quyền, kể cả một số nhà nước phi tôn giáo như Thổ Nhĩ Kỳ và Tunisia, do ý thức được sức mạnh tiềm tàng của Hồi giáo, đã tỏ ra nhạy bén hơn và nôn nóng hơn trước những vấn đề liên quan đến Hồi giáo” (P.Huntington, 2016, tr.171).
Huntington cho rằng, trong những xã hội hiện đại hóa nhanh, nếu tôn giáo truyền thống không đủ khả năng thích ứng được với những yêu cầu của hiện đại hóa, thì có xu thế Cơ Đốc giáo và Hồi giáo sẽ phát triển. Tuy nhiên, “chung cuộc, Muhammad sẽ chiến thắng. Cơ Đốc giáo lan rộng trước hết bằng hoán cải, Hồi giáo bằng hoán cải và tái sinh” (P.Huntington, 2016, tr.88).
3. Phạm vi của các nền văn minh
Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, khi một quốc gia có thể né tránh không tham gia vào một liên minh nào, quốc gia đó không thể có một bản sắc. Giờ đây câu hỏi “anh ở bên nào?” đã được thay thế bằng một câu hỏi khác quan trọng hơn: “anh là ai?”. Mọi quốc gia đều phải trả lời. Do đó, “bản sắc văn hóa của từng quốc gia sẽ xác định vị trí của quốc gia đó trong hệ thống chính trị toàn cầu, các nước bạn bè hay kẻ thù của quốc gia đó” (P.Huntington, 2016, tr.194). Từ đó, các quốc gia sẽ nhìn vào huyết thống, tôn giáo, ngôn ngữ và những giá trị văn hóa khác để xác định mình thuộc nền văn minh nào.
Có thể thấy các quốc gia Công giáo và Tin lành trong khối Hiệp ước Warsaw trước đây như Ba Lan, Hungary, Czech và Slovakia đang tiến dần đến là thành viên của Liên minh châu Âu và NATO. Các nước Baltic cũng đang theo bước họ. Các cường quốc châu Âu đã tuyên bố rõ ràng, rằng họ không muốn có một nhà nước Hồi giáo như Thổ Nhĩ Kỳ trong Liên minh Châu Âu, bởi EU là “sân chơi của Cơ Đốc giáo”. Ngoài ra họ và cũng không vui vẻ gì với quốc gia Hồi giáo thứ hai - Bosnia - trên lục địa của mình. Tương tự, tính chất gắn kết khi “cùng nền văn minh” càng được thể hiện rõ tại Đông Á, nơi các quốc gia cùng chịu sự ảnh hưởng sâu đậm của Khổng giáo.
Các nhà lãnh đạo vùng Balkan cũng đang nói về sự hình thành một liên minh Chính thống giáo gồm Nga, Belarus, Kazakhstan, Moldova, Bulgaria, Serbia, và Hy Lạp. Tính chất của liên minh này được Thủ tướng Hy Lạp khẳng định rằng: “các cuộc chiến ở Balkan… đã đưa đến sự cộng hưởng cho các mối liên hệ Chính thống giáo làm một sợi dây liên kết. Nó đã ngủ yên trong nhiều năm, song với sự phát triển của các nước Balkan, một khối thực sự đang hình thành. Trong một thế giới với các mối quan hệ đầy lỏng lẻo, người ta tìm đến bản sắc và an ninh. Người ta tìm kiếm cội nguồn và những mối liên hệ để bảo vệ mình trước những người lạ” (P.Huntington, 2016, tr.196). Thực tế, sự liên kết này được xem như lá chắn để ngăn chặn sự lấn át của đạo Hồi từ phía Đông Nam châu Âu.
Tiểu lục địa Ấn Độ và Pakistan tiếp tục xung đột về vấn đề Kashmir và các cán cân quân sự giữa hai bên, cuộc chiến ở Kashmir ngày càng tăng và bên trong Ấn Độ đã xuất hiện những cuộc đụng độ giữa người Hồi giáo và Hindu giáo, cả hai nước này đều là đối tác của các siêu cường khác nhau trong Chiến tranh Lạnh. Tuy nhiên, giờ đây họ “đã xác định lại các lợi ích mới của mình và tìm kiếm những mối liên kết thể hiện thực tiễn chính trị và văn hóa” (P.Huntington, 2016, tr.199).
Ở châu Mỹ Latin, “các khối liên kết kinh tế - khối Mercosur, Hiệp ước Andean, Hiệp ước ba bên, Thị trường chung Trung Mỹ - đang thể hiện một sức sống mới, củng cố quan điểm được EU thể hiện rất sinh động là hội nhập kinh tế sẽ tiến triển nhanh hơn và xa hơn khi nó dựa trên sự tương đồng văn hóa” (P.Huntington, 2016, tr.198).
Có thể thấy, Huntington cho rằng các dân tộc và các quốc gia có các nét văn hóa tương đồng thì sẽ nhóm lại với nhau. Còn các dân tộc và các quốc gia có nền văn hóa khác nhau thì sẽ tách nhau ra. Các ranh giới chính trị do đó cũng được định hình lại để phù hợp với các ranh giới văn hóa khác như dân tộc, tôn giáo và nền văn minh.
4. Quốc gia chủ chốt trong các nền văn minh
Các nền văn minh thường có một hoặc vài nơi được các thành viên quan niệm là nguồn gốc chính hay cội nguồn của nền văn minh. Những nguồn gốc này thường nằm trong các quốc gia chủ chốt của nền văn minh, quốc gia này chính là trung tâm về văn hóa và mạnh nhất của nền văn minh đó. Một ngoại lệ duy nhất là Nhật Bản, đây là trường hợp cá biệt vì nó là quốc gia duy nhất của chính nền văn minh do mình tạo ra. Các trường hợp còn lại như các nền văn minh Khổng giáo, Chính thống giáo và Hindu giáo, mỗi nền văn minh đều có một quốc gia chủ chốt chi phối.
Theo đó thì Trung Quốc là quốc gia chủ chốt đối với nền văn minh Khổng giáo, và nền văn minh này đã thiết lập một khu vực ảnh hưởng khá rộng lớn bao gồm Triều Tiên, Việt Nam, Singapore, cùng các vùng lãnh thổ như Đài Loan, Hongkong. Nga đại diện cho nền văn minh Chính thống giáo bao gồm Belarus, Kazakhstan, Moldova, Bulgaria, Serbia, và Hy Lạp. Ấn Độ đại diện cho nền văn minh Hindu giáo, ảnh hưởng quanh các vùng phụ cận. Nền văn minh phương Tây hiện nay thì có hai, một trung tâm là Hoa Kỳ, trung tâm kia là Pháp-Đức ở châu Âu, Anh là cầu nối giữa hai trung tâm. Đối với các nền văn minh còn lại là Hồi giáo, Mỹ Latin, châu Phi thì không có quốc gia chủ chốt. Điều này được lý giải là một phần do chủ nghĩa đế quốc phương Tây đã chia rẽ các nước châu Phi, Trung Đông, và phần nào với Mỹ Latin trong các thế kỷ trước. Các trường hợp như Brazil đối với Mỹ Latin, Iran đối với Hồi giáo, hay Nam Phi đối với châu Phi thì có thể có tiềm năng để trở thành quốc gia chủ chốt trong nền văn minh của họ, tuy nhiên vẫn còn nhiều khó khăn và phức tạp.
Trong thế giới ngày nay, sức mạnh toàn cầu đã lỗi thời. Không có nước nào, kể cả Hoa Kỳ, có lợi ích an ninh toàn cầu đáng kể. Có thể thấy các yếu tố của một trật tự trong thế giới ngày càng đa dạng và phức tạp hơn ở bên trong và ở giữa các nền văn minh. “Một trật tự thế giới sẽ hình thành dựa trên các nền văn minh hoặc không dựa vào cái gì cả. Trong thế giới ngày nay, các quốc gia chủ chốt của các nền văn minh là những nguồn thiết lập trật tự bên trong các nền văn minh và giữa các nền văn minh thông qua các cuộc thương lượng với các quốc gia chủ chốt khác” (P.Huntington, 2016, tr.255). Qua đó, quốc gia chủ chốt sẽ là quốc gia chi phối các quốc gia thành viên và người dân gắn kết với nền văn minh của họ. Như vậy, trật tự chính trị thế giới phần lớn dựa vào quyền lợi và trách nhiệm thông qua sự đối thoại của các quốc gia chủ chốt.
5. Sự va chạm của các nền văn minh
Huntington cho rằng, chủ nghĩa hiện thực đã dự báo về chính trị quốc tế là những quốc gia chủ chốt của các nền văn minh ngoài phương Tây sẽ liên kết với nhau để cân bằng quyền lực với phương Tây. Chừng nào mà sự phát triển kinh tế châu Á và dân số Hồi giáo còn tiếp tục, các cuộc xung đột giữa phương Tây và các nền văn minh cạnh tranh sẽ vẫn là vấn đề trung tâm của nền chính trị toàn cầu hơn là các đường lối chia rẽ khác. Trong những điều kiện đó, mối liên kết Hồi giáo - Khổng giáo sẽ tiếp tục và có lẽ sẽ phát triển sâu rộng hơn. Trung tâm của mối liên kết này là sự hợp tác giữa các xã hội Hồi giáo và Trung Hoa nhằm chống lại phương Tây về phát triển vũ khí, nhân quyền và những vấn đề khác.
Ngoài ra, các mối quan hệ giữa Nga và thế giới Hồi giáo, hay sự nỗ lực của Ấn Độ trong tương lai “không chỉ là một trung tâm quyền lực độc lập trong một thế giới đa cực, mà còn là một đối trọng trước ảnh hưởng và sức mạnh của Trung Quốc” (P.Huntington, 2016, tr.422). Và đằng sau đó có thể là chống lại liên minh Khổng giáo - Hồi giáo bằng cách tiếp tục duy trì quan hệ hợp tác với Nga. Và cũng không loại trừ khả năng trước sức ép của Trung Quốc và thế giới Hồi giáo, Ấn Độ cũng có thể xích lại gần hơn với Hoa Kỳ. Đó là một vấn đề phức tạp trong hướng đi của các nền văn minh nhằm đảm bảo quyền lợi và cố gắng kiểm soát trước sức ép của các nền văn minh khác.
Trong cục diện chung nhất, Huntington đi đến kết luận: “Ở cấp độ vi mô, phân giới văn minh sai lạc bạo lực nhất là giữa Hồi giáo và Chính thống giáo, đạo Hindu, châu Phi với các nước láng giềng Cơ Đốc giáo phương Tây. Ở cấp độ vĩ mô, sự chia rẽ chủ yếu nhất là giữa phương Tây và phần còn lại của thế giới, với các cuộc xung đột căng thẳng nhất xảy ra giữa một bên là các xã hội Hồi giáo và châu Á với một bên là phương Tây. Những sự va chạm nguy hiểm trong tương lai có thể nảy sinh từ sự va chạm giữa thói kiêu ngạo của phương Tây, tính chấp nhặt của Hồi giáo và tính quả quyết của người Hoa” (P.Huntington, 2016, tr.297-298).
Sở dĩ phương Tây luôn là mục tiêu của các nền văn minh khác, là vì trong số các nền văn minh thì “nền văn minh phương Tây có tác động lớn và đôi lúc có tính hủy diệt các nền văn minh khác. Mối quan hệ giữa sức mạnh và văn hóa của phương Tây với sức mạnh và văn hóa của các nền văn minh khác do vậy là đặc điểm bao trùm nhất trong thế giới các nền văn minh” (P.Huntington, 2016, tr.298). Ngoài ra, thái độ và sự áp đặt đơn phương từ phương Tây khiến các nền văn minh khác luôn đặt trong tinh thần trỗi dậy sự phản kháng. Họ phản kháng đôi khi không phải vì nội dung, mà có thể phần lớn đến từ thái độ.
Để rồi cuối cùng phương Tây, và đặc biệt là Hoa Kỳ, luôn cho rằng các dân tộc ngoài phương Tây nên cam kết với các giá trị của phương Tây về dân chủ, tự do, nhân quyền, chủ nghĩa cá nhân…. và nên đưa những giá trị đó vào thể chế của mình. Một số dân tộc nhỏ thuộc các nền văn minh khác đã tiếp thu và thúc đẩy các giá trị này, song thái độ của các dân tộc thuộc các nền văn minh ngoài phương Tây đối với các giá trị phương Tây thường là từ hoài nghi đến chống đối. Cái gọi là “giá trị phổ quát”, đối với phần còn lại của thế giới chính là chủ nghĩa đế quốc, hay nói cách khác, phương Tây đã “va chạm” vào ranh giới của các nền văn minh khác, điều đó chỉ đưa đến một hệ quả duy nhất là chiến tranh.
Do đó, chiến tranh có thể nổ ra nếu sự phân chia ranh giới văn minh không hợp lý. Với tính chất của của những cuộc chiến này thì người ta có thể ngăn chặn nó trong một thời gian ngắn, và hiếm khi chấm dứt được vĩnh viễn. “Chúng tắt rồi lại bùng phát trở lại bởi vì chúng bắt nguồn từ các cuộc xung đột sâu sắc do phân chia ranh giới văn minh sai lạc, trong đó có liên quan đến những mối quan hệ hiềm khích kéo dài giữa các nhóm thuộc các nền văn minh khác nhau” (P.Huntington, 2016, tr.512). Các cuộc xung đột này chỉ có thể chuyển hóa trong vài thế kỷ, hoặc có thể tiếp tục ngấm ngầm bùng phát, hay thậm chí chúng có thể biến mất một cách nhanh chóng và tàn bạo, nếu có một nhóm này tiêu diệt nhóm kia.
6. Tương lai các nền văn minh
Lịch sử đến hồi kết ít nhất một lần và đôi khi vài lần trong mỗi nền văn minh. Khi quốc gia mang tính đại diện của nền văn minh nổi lên, người dân của quốc gia đó bị lóa mắt bởi cái mà Toynbee gọi là ảo ảnh của tính bất tử và tin rằng quốc gia của họ là dạng thức hoàn hảo của xã hội loài người. Lịch sử cũng đã từng ghi nhận rất nhiều trường hợp như thế: đế chế La Mã, Abbasid, Mughal, hay Ottoman… Và liệu nền văn minh phương Tây hiện tại liệu có cùng chung số phận? Thật khó để trả lời, bởi nền văn minh phương này mang một tính chất khác biệt so với tất cả các nền văn minh khác. Tuy nhiên, trong quá khứ các nền văn minh khác họ cũng đã từng nghĩ như chúng ta hiện nay, và rồi tất cả chúng ta đều sai. Mặc dù vậy, tiến trình phát triển của văn minh phương Tây vẫn rất khôn khéo và thận trọng khi họ “vẫn không đi chệch đường lối đáng kể so với những khuôn mẫu tiến hóa phổ biến trong các nền văn minh theo suốt chiều dài lịch sử nhân loại” (P.Huntington, 2016, tr.533).
Nền văn minh phương Tây đang phát triển với mức độ tương xứng của mình để trở thành một đế quốc toàn cầu, nói như nhà sử học Carroll Quigley: “không có bất kỳ đối thủ cạnh tranh nào trong phạm vi của chính nền văn minh đó, và do sự xa xôi, cách biệt hoặc thậm chí do không có các cuộc đấu tranh với những xã hội khác bên ngoài” (P.Huntington, 2016, tr.534). Điều đó nói lên tầm phổ quát mà nền văn minh phương Tây đã tạo ra. Chỉ có một lý do quan trọng nhất với an nguy của nền văn minh phương Tây là nó bị thách thức bởi các nhóm bên trong xã hội phương Tây, mà yếu tố quan trọng nhất chính là “sự xói mòn của đạo Cơ Đốc” trong lòng người dân phương Tây. Đây rất có thể là mối đe dọa dài hạn, nguy hiểm đối với tính ổn định và sự phồn thịnh của nền văn minh phương Tây.
Ngoài ra, như đã đề cập, nếu cán cân về sức mạnh chính trị vẫn tiếp tục diễn ra, cùng với “sự nổi lên của Trung Quốc, và sự hiểu biết ý thức ngày càng gia tăng của tay chơi nặng ký nhất lịch sử nhân loại này sẽ gây áp lực rất lớn lên sự ổn định quốc tế đầu thế kỷ XXI” (P.Huntington, 2016, tr.556). Do vậy, trong thời gian tới của tương lai nhân loại, để tránh khỏi các cuộc chiến tranh giữa các nền văn minh lớn đòi hỏi các quốc gia chủ chốt, thứ nhất là “phải kiềm chế can thiệp vào những cuộc xung đột bên trong các nền văn minh khác. Đây là một chân lý mà một vài quốc gia, đặc biệt là Hoa Kỳ, chắc chắn sẽ thấy khó có thể chấp nhận được” (P.Huntington, 2016, tr.556). Yêu cầu thứ hai là tuân thủ với nguyên tắc “Luật cùng hòa giải mà các quốc gia chủ chốt sẽ đàm phán với nhau để kiềm chế hoặc ngăn chặn những cuộc chiến tranh do phân giới văn minh bất hợp lý giữa các quốc gia hoặc các nhóm bên trong nền văn minh của họ” (P.Huntington, 2016, tr.556).
Để củng cố giải pháp trên, Huntington đã đưa ra “những khái niệm đạo đức tối thiểu của chân lý và công lý được tìm thấy trong tất cả những giá trị đạo đức có bề dày và không thể tách rời khỏi chúng” (P.Huntington, 2016, tr.560). Bởi suy cho cùng, xã hội loài người có một tính chất chung là hướng đến tính nhân văn. Do đó, “thay vì thúc đẩy những đặc điểm chung của một nền văn minh để cùng tồn tại về văn hóa, con người cần tìm ra cái gì là chung nhất cho hầu hết các nền văn minh” (P.Huntington, 2016, tr.560).
Bên cạnh đó, có thể thấy “dù mức độ chia rẽ loài người của chúng ta đến đâu, các tôn giáo chính trên thế giới: Cơ Đốc giáo phương Tây, Chính thống giáo, Hindu giáo, Phật giáo, Hồi giáo, Khổng giáo, Lão giáo, Do Thái giáo - cũng chia sẻ những giá trị chung. Nếu loài người muốn phát triển một nền văn minh chung, thì nền văn minh này sẽ nổi lên dần thông qua sự khám phá và mở rộng của những đặc điểm chung ấy” (P.Huntington, 2016, tr.563). Vì thế, các dân tộc trong các nền văn minh nên tìm kiếm mở rộng những giá trị chung của các dân tộc thuộc các nền văn minh khác. Chính nỗ lực này sẽ hạn chế sự va chạm của các nền văn minh, từ đó sẽ hướng đến một viễn cảnh của sự hòa trộn ở mức độ cao hơn mang tính phổ quát về ý thức đạo đức, tôn giáo, học vấn, nghệ thuật, triết học, cùng nhiều yếu tố khác. Cuối cùng, một trật tự quốc tế dựa trên sự đối thoại và thỏa thuận của các nền văn minh là một đảm bảo an toàn chắc chắn nhất để chống lại chiến tranh.
Vài nhận định về lý thuyết Sự va chạm của các nền văn minh
Trong tác phẩm này, Huntington đã vẽ lại bức tranh chung về các nền văn minh thế giới, và đã xem xét văn minh như là một cộng đồng văn hoá bậc cao, tức là mức độ rộng nhất của tính đồng nhất văn hoá con người. Qua đó, trật tự chính trị thế giới đang được định hình bởi tám nền văn minh đang trực tiếp tác động lên hiện thực đời sống nhân loại. Phần sau tác phẩm, ông thu thành hai bộ phận là văn minh phương Tây và văn minh ngoài phương Tây, trong đó văn minh phương Tây vẫn đóng vai trò “làm chủ cuộc chơi”, và là khung tham chiếu để xem xét các nền văn minh khác.
Ông khẳng định, sự khác biệt giữa các nền văn minh có ý nghĩa bản chất so với những khác biệt giữa các ý thức hệ chính trị. Trong trật tự thế giới mới đang hình thành, nguồn gốc của các xung đột sẽ không còn là hệ tư tưởng và kinh tế nữa, mà là văn hoá. Do đó, trong thế kỷ XXI, sự va chạm giữa các nền văn minh sẽ là nhân tố chủ đạo của nền chính trị thế giới, đặc biệt là giữa văn minh phương Tây và các nền văn minh ngoài phương Tây.
Trên cơ sở xác định các nền văn minh tạo nên trật tự thế giới, Hungtington tiếp tục làm sáng tỏ những thay đổi về cán cân giữa các nền văn minh, giải thích sự thoái trào của văn minh phương Tây và quá trình phục sinh các nền văn minh ngoài phương Tây. Ông cũng chỉ ra một trật tự mới của các nền văn minh, đặc biệt là nền văn minh Trung Hoa có thể trỗi dậy để trở thành một thế lực tranh bá trong trật tự chính trị toàn cầu.
Một trong những điểm sáng của Hungtington là phát hiện ra và nhìn nhận vai trò của nhà nước chủ chốt trong sự hình thành và phát triển của một nền văn minh nhất định. Đó là nhà nước dẫn đầu của khối các nhà nước cùng chủng tộc, cùng ngôn ngữ, và đặc biệt là cùng tôn giáo. Hungtington đã có những phân tích đáng ngạc nhiên về hai trường hợp là Nga với các nước láng giềng, và Trung Quốc với các nước Đông Á nhằm minh chứng cho luận điểm này.
Hungtington đã phân tích các nhân tố cơ bản đẩy thế giới đi tới sự va chạm giữa các nền văn minh, và đã đi đến kết luận có tính khái quát quan trọng: sự va chạm của các nền văn minh trong tương lai của nhân loại sẽ được hướng theo hai cấp độ. Ở cấp độ vi mô, phân giới văn minh sai lạc bạo lực nhất là giữa Hồi giáo và Chính thống giáo, đạo Hindu, châu Phi với các nước láng giềng Cơ Đốc giáo phương Tây. Ở cấp độ vĩ mô, sự chia rẽ chủ yếu nhất là giữa phương Tây và phần còn lại của thế giới, với các cuộc xung đột căng thẳng nhất xảy ra giữa một bên là các xã hội Hồi giáo và châu Á với một bên là phương Tây. Những sự va chạm nguy hiểm trong tương lai có thể nảy sinh từ sự va chạm giữa thói kiêu ngạo của phương Tây, tính chấp nhặt của Hồi giáo và tính quả quyết của người Hoa. Do đó, tương lai của cả hòa bình và văn minh đều phụ thuộc vào sự hiểu biết và hợp tác giữa các nhà lãnh đạo chính trị, tinh thần của các nền văn minh lớn trên thế giới. Quả thực, có quá nhiều giá trị từ thông tin mà tác giả mang lại, tuy nhiên trong phạm vi bài viết chỉ có thể ghi nhận những nét độc đáo trên.
Dù vậy, cũng như mọi góc nhìn, vẫn đều có những giới hạn nhất định. Và ở đây chúng ta có thể thấy ngay điều đó trong những kết luận có tính khiên cưỡng của ông về chính cách phân loại các nền văn minh, hay cơ sở để ông kết luận đó là một nền văn minh. Như trường hợp của Nhật Bản, tác giả liệu có áp đặt khi nhận xét về Nhật Bản tự thiết lập nên một nền văn minh độc lập theo nghĩa truyền thống? Đọc qua, người ta có cảm tưởng là Hungtington đã khá gượng, cố viết về Nhật Bản theo tư tưởng được vạch sẵn mà không phải là một Nhật Bản thực tế với văn hóa và tư tưởng gần như vẫn không bao giờ thoát khỏi vòng cương tỏa của văn hoá Trung Hoa, như các nước khác ở Đông Á. Tất nhiên, ai cũng có thể thấy được sự sáng tạo tuyệt vời của văn hoá Nhật Bản, nhưng để nói nó hoàn toàn tách biệt khỏi tầm ảnh hưởng của văn minh Trung Hoa, là không.
Và đó cũng chính là vấn đề để nhìn vào tính phức tạp về thái độ giữa các quốc gia ngay trong phạm vi của một nền văn minh. Hungtington dường như đã lý tưởng hoá sự “đồng thuận” hay sự “thần phục” của các quốc gia nhỏ trước một quốc gia chủ chốt. Ông đã giả định một cách cơ học rằng khi có xung đột xảy ra, các nước nhỏ sẽ tự động “về phe” hoặc chịu sự dẫn dắt của nước lớn mang tính đại diện văn hóa. Từ lịch sử và cả trong thực tế, xung đột trên phương diện tư tưởng và nhất là việc bảo vệ bản sắc để tránh bị đồng hoá của các quốc gia này đối với quốc gia chủ chốt thậm chí còn căng thẳng hơn là giữa các nền văn minh lớn. Tại Đông Á, trường hợp của Nhật Bản hay Việt Nam chính là những mẫu điển hình cho sự phản kháng mạnh mẽ về ý thức văn hoá. Việc tiếp nhận những giá trị văn hoá của các quốc gia nhỏ vì thế luôn đi kèm với tâm lý phòng vệ trước nỗi sợ bị đồng hoá. Tương tự, nhìn sang sự xung đột giữa chính những người Sunni và Shia của Hồi giáo; hay giữa những người Công giáo La Mã, Tin Lành và Anh giáo trong Kitô giáo, chúng ta thấy điều này diễn ra còn khốc liệt hơn. Do đó, sự đồng nhất cơ bản và cả tính chia rẽ sâu sắc bên trong mỗi nền văn minh luôn là vấn đề nan giải. Ở đó, tồn tại nhiều nghịch lý, là sự đan xen giữa đồng nhất và tách biệt, giữa gần gũi và cảnh giác. Và trên thực tế, tính độc lập và tự tôn trong mỗi dân tộc ít khi cho phép họ đứng dưới “cái bóng” của “quốc gia chủ chốt” nào.
Lý do quan trọng nhất cho bài điểm sách này là vấn đề tôn giáo. Hungtington đã loại trừ các tôn giáo quan trọng khác trong xã hội Đông Á khi chỉ nhấn mạnh đến Khổng giáo. Dù ông có đề cập và lý giải trường hợp của Phật giáo hay Lão giáo, nhưng gần như chỉ để phục vụ cho luận điểm sẵn có, bỏ qua cả vị thế lịch sử và cả ảnh hưởng thực tế của các tôn giáo này. Dù có những dẫn chứng thuyết phục khi đặt mối tương quan mang tính cốt lõi của Hồi giáo đối với thế giới Ả-rập, hay thậm chí là Cơ Đốc giáo đối với xã hội phương Tây (dù vẫn khá lỏng lẻo) và Mỹ Latin; nhưng trường hợp Nho giáo với các xã hội Đông Á thì điều này đã trở nên khập khiễng. Liệu chỉ có Nho giáo là nền văn minh cốt lõi ở khu vực này? Với những gì lịch sử đã từng ghi nhận, để nói về mức độ bao phủ, chi phối và bám rễ tại Đông Á, thì Phật giáo thậm chí đã tỏ ra vượt trội so với Nho giáo. Trong lịch sử Đông Á, phần lớn các vị quân vương đều theo Phật giáo trong ý nghĩa tôn giáo, và sử dụng Nho giáo như là phương tiện cai trị. Và dù Nho giáo được dùng như một công cụ để ổn định chính trị và duy trì cấu trúc xã hội, nhưng vẫn hoàn toàn lép vế trước sức hút của Phật giáo về triết học, nghệ thuật và đặc biệt là văn hoá đại chúng. Sâu thẳm trong trái tim của con người Đông Á nói chung, nếu phải lựa chọn, ắt hẳn họ nghiêng về Phật hơn là Nho. Và Hungtington quên rằng, khác với truyền thống phương Tây, nơi một người chỉ có thể theo một tôn giáo cụ thể, hoặc Do Thái giáo hoặc Kitô giáo. Nhưng với Đông Á, nơi một người vừa theo Nho, đồng thời vừa thờ Phật. Thực ra, văn hoá Đông Á vốn là một cấu trúc đan xen, sự hoà quyện giữa các học thuyết đã tạo ra một chỉnh thể trong suốt hàng nghìn năm, nên rất khó tách bạch để thẩm định. Nhưng sẽ chắc chắn một điều, nếu không có Phật giáo, mảnh đất Đông Á đã mất đi “một nửa linh hồn”. Vậy nên, trong một chừng mực có thể chấp nhận, chúng ta đã chứng kiến một “liên hợp Khổng-Phật” thay nhau hay cùng nhau chi phối và kiến tạo xã hội.
Đúng là trong sâu xa, ai cũng sẽ tự hào về cội nguồn văn hoá mà mình thuộc về. Tuy nhiên, điều đó không hẳn đưa đến sự đóng khung cứng nhắc trong tính bản sắc cố hữu. Lấy giọng văn trong tiểu thuyết Vũng biển chết của Michael Dibdin, Huntington viết: “Người ta chẳng bao giờ có bạn mà lại không có kẻ thù, người ta ghét cái không giống mình, nghĩa là người ta yêu cái giống mình. Đây chỉ là những chân lý cũ mà chúng ta đang cố gắng khám phá lại sau một thế kỷ loanh quanh lảng tránh”. Huntington ca ngợi điều này và coi đó là quan điểm chủ đạo cho tư tưởng của mình. Có đúng là nhân loại vẫn thường cư xử với nhau như vậy? Và có đúng là văn minh nhân loại đã phân theo từng “khối cụ thể” như vậy? Thật khó tin. Phải chăng, đây là lý do mà lý thuyết của Huntington đã vấp phải những chỉ trích khi họ xem ông đã áp đặt và “đơn giản hoá” mọi thứ. Rõ ràng, sự rạch ròi khi phân chia các nền văn minh mà Huntington xây dựng đã bỏ qua những tương quan phức tạp trong thực tế của xã hội hiện đại. Tính đa sắc màu của con người ngày nay đã khiến mọi thứ được phối trộn, hơn là chỉ thông qua lăng kính văn hoá hay tôn giáo duy nhất. Dù muốn hay không, ngày nay, điều đó là rất khó.
Một điểm chí mạng là các học giả Âu-Mỹ luôn có thói quen khi xem phương Tây là trung tâm của thế giới, mọi dấu ấn lịch sử nhân loại đều căn cứ vào đó mà không cần đả động đến những khu vực khác. Nếu có, thì cũng chỉ điểm qua một cách hời hợt, bởi sau đó họ vẫn xem phương Tây là hệ quy chiếu. Bất ngờ hơn khi chính Huntington đã lên án vấn đề này, và cuối cùng thì ông cũng không thoát ra khỏi “khuôn khổ” ấy. Ông đã lên sẵn khuôn mẫu và cố gắng sắp xếp mọi thứ trong trật tự đã được định hình với những gì đã và đang diễn ra tại phương Tây.
Cuối cùng, trên tất cả, công bằng mà nói, lý thuyết về Sự va chạm của các nền văn minh vẫn là một góc nhìn thực sự mới lạ và táo bạo, có một hệ thống phân tích sắc sảo, cuốn hút, cùng các dẫn chứng vô cùng thuyết phục, cũng như với giọng bình luận đầy thẩm quyền của một học giả uyên bác với bề dày của một “lão làng” đầy kinh nghiệm. Đây sẽ là một góc tham chiếu vô cùng thú vị khi tìm hiểu về bức tranh tôn giáo-văn hoá-chính trị thế giới phức tạp và hấp dẫn.
KẾT LUẬN
Giá trị cốt lõi trong tác phẩm này đã mở ra hướng đi mới cho cộng đồng thế giới trong việc tìm kiếm giải pháp để hạn chế những xung đột quốc gia, khu vực và toàn cầu do sự khác biệt của các nền văn minh gây ra. Xu hướng khả thi và tích cực nhất mà Hungtington đề xướng là hướng tới cuộc đối thoại giữa các nền văn minh, như là cách duy nhất để tránh mọi xung đột.
Ngay sau sự kiện khủng bố ngày 11 tháng 9 đã làm xấu đi mối quan hệ giữa phương Tây và thế giới Hồi giáo, UNESCO lập tức thông qua Tuyên bố chung về sự đa dạng văn hoá - một văn kiện được đánh giá là quan trọng không kém so với Tuyên bố chung về quyền con người. Tuyên bố này đã phát triển những luận giải của Hungtington thành một kết luận mang ý nghĩa toàn cầu: đối thoại giữa các nền văn hoá là sự bảo đảm tốt nhất cho hoà bình thế giới. Và theo một ý nghĩa nào đó, những kết quả nghiên cứu của Hungtington đã không chỉ dừng lại ở giá trị lý thuyết, mà còn góp phần hướng nhân loại vào hy vọng về những hành động thiết thực để duy trì một thế giới ổn định và hòa bình ở một mức độ nhất định.
Đạo Hy
Saigon, Thu 2022.
Tham khảo
Samuel P.Huntington. (2016). Sự va chạm của các nền văn minh. (Nguyễn Phương Sửu & cộng sự dịch). Hà Nội: Hồng Đức.
Bình luận