top of page

Nguyên tắc áp dụng giới luật trong đạo Phật

  • Ảnh của tác giả: ĐẠO HY
    ĐẠO HY
  • 3 thg 4
  • 9 phút đọc

Đã cập nhật: 20 thg 4


Luật tạng, dù được phân thành nhiều hệ khác nhau, nhưng tất cả đều được xây dựng trên nền tảng của giới. Giới (śīla), những điều khoản được Đức Phật chế định tạo thành một hệ thống nguyên tắc sống, vừa mang tính thực tiễn trên phương diện sinh hoạt, vừa mang tính thiêng liêng trên phương diện tinh thần. Hệ thống nguyên tắc này hướng đến việc xác lập giá trị đạo đức, trau dồi tư cách phẩm giá nơi mỗi cá nhân; đồng thời cũng xác lập những nguyên tắc thuộc quy phạm chuẩn mực hướng đến sự hài hòa trong đời sống cộng đồng của Tăng đoàn.

Theo đó, trên cơ bản, giới được phân làm hai phạm trù: những quy định phải được thực thi (giới tác trì - 作持) mang tính cộng đồng, và những quy định không được vi phạm (giới chỉ trì - 止持) mang tính cá nhân.      

Với những quy định phải được thực thi (tác trì), không làm là vi phạm. Theo đó, Tăng sĩ sống trong cộng đồng phải thực hiện những quy định chung (kiền-độ - skandha, tức chỉ những nguyên tắc trong đời sống sinh hoạt của Tăng sĩ) về việc tổ chức bố-tát (posatha - ngày đọc giới, ngày trăng tròn), truyền giới-thọ giới, an cư, tự tứ ; tuân thủ các quy định trong các vấn đề về y phục, thuốc men, phòng xá, tạp sự; cho đến việc chấp hành những nguyên tắc về thủ tục (tác pháp yết-ma) để giải quyết vấn đề - sự việc, về hội nghị biểu quyết, quy định địa vực mà Tăng sĩ có thể đi lại trong phạm vi cho phép (cương giới)… Nói chung, đây là những quy tắc chung trong đời sống sinh hoạt cộng đồng, những điều khoản được thiết lập trong đây là những quy định bắt buộc mà mỗi cá nhân đều phải tuân thủ khi sống với tập thể.


Với những quy định không được thực thi (chỉ trì), làm là vi phạm. Cá nhân mỗi Tăng sĩ phải tránh xa những điều khoản đã quy định trong giới cấm. Khi trở thành một Tăng sĩ chính thức, điển hình như tỳ-kheo hoặc tỳ-kheo ni theo luật hệ Tứ phần, sẽ tự nguyện tuân thủ theo quy định với 250 giới dành cho nam và 348 giới dành cho nữ. Hệ thống giới điều này do đó được xem như bộ quy tắc đạo đức mà người Tăng sĩ cần phải tôn trọng và tuân thủ.

Ở đây, cần thấy sự khác biệt giữa hai khái niệm “śīla” (giới) và “prātimokṣa” (giới bổn) bởi chúng hay bị nhầm lẫn. Nếu “śīla” thường được dùng để chỉ định cụ thể cho mỗi điều khoản riêng biệt, thì “prātimokṣa” được dùng để chỉ cho sự tổng hợp các điều khoản ấy và đồng thời cũng chứa đựng hàm ý về tính chất. Trong ý nghĩa sâu xa, khái niệm “giới” (śīla) trong Phật giáo mang hàm ý gốc là “phòng hộ” (học xứ) nhấn mạnh đến việc học các điều khoản đạo đức mang tính tích cực; mà không phải là sự “răn cấm” mang tính tiêu cực và thụ động. Đó là bởi giới có công năng làm nền tảng trong tiến trình giác ngộ, vì khi không thiết lập được đạo đức thì mọi nổ lực hướng đến giải thoát đều vô nghĩa. Một kẻ mà ngay cả tư cách đạo đức cũng không có, tất nhiên sẽ không có chỗ đứng trong con đường đi đến chân lý. Làm sao với một đời sống nhiễm ô, một tâm trí bất tịnh lại có thể có vị trí trong lộ trình giác ngộ? Từ tính chất đó, thuật ngữ prātimokṣa (ba-la-đề-mộc-xoa) được dịch nghĩa là “biệt giải thoát” để diễn tả cho công dụng của giới (śīla), nhằm chỉ cho việc giữ được giới điều nào thì sẽ tự do trong trong giới điều ấy.

Theo đó, toàn bộ giới cấm sẽ được phân ra thành tám chương (nhóm/mục): 1. Ba-la-di, 2. Tăng tàn, 3. Bất định, 4. Xả đọa, 5. Đơn đọa, 6. Hối quá, 7. Pháp chúng học, và 8. Diệt tránh. Trên cơ bản, tám chương này có thể được gom thành hai vấn đề chính: đạo đức (thuộc phẩm giá, những nhóm giới nặng) và tư cách (thuộc tác phong, những nhóm giới nhẹ).


Dựa vào tính chất của tám chương trên, luật học Phật giáo đã định ra năm loại tội (ngũ thiên - ngũ chúng tội)[1] tương ứng với năm mức độ từ nặng xuống đến nhẹ: 1. “Đoạn đầu”, tức phạm bốn giới ba-la-di (pārājika), không thể sám hối vì đã đánh mất bản chất Tăng sĩ, không còn mang tư cách của Tăng sĩ, và bị trục xuất khỏi Tăng đoàn vĩnh viễn. 2. Tăng tàn (saṃghāvaśeṣa), tức phạm mười ba giới tăng tàn, như thân mang trọng bệnh hay bị thương tật, bị tách khỏi Tăng đoàn và phải thực hiện nghi thức sám pháp theo luật định để phục hồi tư cách Tăng sĩ. 3. Ba-dật-đề (Pāyattika), tức phạm ba mươi giới xả đọa và chín mươi giới đơn đọa, phải trình bày và sám hối trước Tăng chúng với xả đọa hoặc có thể tự tâm niệm hối cải với đơn đọa. 4. Ba-la-đề-xá-ni (Prātidesaniya), tức phạm bốn giới hối quá, cần đối trước một tỳ-kheo thanh tịnh để nhận lỗi. 5. Đột-kiết-la (Duṣkṛta), tức phạm một trăm giới pháp chúng học (những phép tắc cần học về tác phong, tư cách) và bảy giới diệt tránh (cách chấm dứt tranh chấp); tội này chủ yếu được tạo ra từ thân (ác tác) và miệng (ác thuyết).


Ngoài ra, còn có một loại tội nhưng chưa thể xác định là vi phạm ba-la-di, tăng tàn hay ba-dật-đề, và cần có thời gian để xem xét mới có thể đi đến kết luận, được gọi là thâu-lan-giá (sthūlātyaya). Do đó, thâu-lan-giá là tội được kết luận tạm thời ở giai đoạn ban đầu (chính là hai tội trong nhóm bất định), và kết quả của tội này sẽ tùy vào sự xác minh cuối cùng sau quá trình luận tội để xét mức độ vi phạm theo một trong ba nhóm giới trên.      

Thực ra, việc áp dụng giới luật của Phật giáo cũng được xem xét trong thái độ uyển chuyển, điển hình như cùng là một giới điều, nhưng tùy theo hoàn cảnh để xác định mức độ vi phạm. Dựa vào mức độ, hệ thống giới luật lại được chia làm hai phần: giới thuộc về bản chất (性戒 - tánh giới) và giới thuộc về phương tiện (遮戒 - giá giới) để xác định tính chất của mỗi loại hình. Giới thuộc về bản chất gồm bốn giới căn bản, được xác định là: 1. Giết, 2. Trộm, 3. Dâm, 4. Dối. Nói ngắn gọn, đối với giới thuộc về bản chất, đã là con người, cứ thực hiện là vi phạm mà không cần xem xét đến động cơ hay hoàn cảnh. Điều này áp dụng một cách triệt để và phổ quát với tất cả đối tượng dù ở trong bất kỳ xứ sở nào. Nói cách khác, với những giới mang tính cốt tủy này, dù Đức Phật có chế định hay không, và dù con người có tiếp nhận giới điều này hay không, nếu thực hiện thì đều vi phạm, không có trường hợp ngoại lệ. Điển hình, khi thực hiện hành vi giết người, dù người thực hiện có tiếp nhận giới hay không, cũng như xuất phát bởi động cơ hay hoàn cảnh nào, cứ giết người là vi phạm.

Tất nhiên, đó là xét trên bình diện chung, còn khi đi vào chi tiết để xét một cách cụ thể: động cơ thuộc cố ý hay vô tình, hành vi là chủ động hay tự vệ, tâm lý có hối hận hay vẫn ngoan cố sau khi thực hiện… thì mức độ phạm tội theo đó cũng được thay đổi. Ngoại trừ bốn giới mang tính bản chất này, tất cả các giới còn lại đều thuộc về giới phương tiện, tức giá giới. “Giá” (遮) hàm nghĩa ngăn che, chặn đứng, với chức năng làm rào chắn nhằm ngăn ngừa từ trước những nguy cơ vi phạm các giới thuộc bản chất (tánh giới); đồng thời cũng nhằm xây dựng tư cách, tác phong mô phạm cho người Tăng sĩ. Với loại hình giới này, sẽ tùy vào hoàn cảnh, động cơ và hậu quả để xem xét mức độ vi phạm.  

Theo đó, để giới điều được áp dụng một cách hài hòa và uyển chuyển trong đời sống thực tế, luật đã định ra một khung tham chiếu nhằm tránh tình trạng giới điều rơi vào sự cứng nhắc khi trở thành những hình thức chết. Vì thế, mỗi giới điều như vậy sẽ được xem xét thông qua bốn góc độ: khai - giá - trì - phạm, để xác minh biên độ hiệu lực trong phạm vi cho phép: 1. Khai (開), sự mở ra hay nới rộng hiệu lực của giới điều. 2. Giá (遮), sự ngăn che, chỉ việc phòng ngừa vi phạm và cũng nói đến sự thích ứng của giới điều tùy theo bối cảnh. 3. Trì (持), sự gìn giữ giới điều đã tiếp nhận. 4. Phạm (犯), sự vi phạm giới điều đã tiếp nhận.    

Ví dụ, theo giới quy định, tỳ-kheo không được uống rượu, nhưng vì bệnh tật cần sử dụng rượu như một phương thuốc điều trị, tỳ-kheo ấy trình thưa với Tăng chúng, là hợp pháp, như vậy được gọi là “khai”. Cũng vấn đề này, nhưng khi ở một xứ sở khác, nếu việc mời rượu được xem như một phép lịch sự tối thiểu mang tính bắt buộc trong văn hóa giao tiếp, vị ấy có thể châm chước uống một ít (thích ứng hoàn cảnh), miễn không bị mất tự chủ hay ảnh hưởng đến tư cách chuẩn mực, và vẫn giữ được tác phong mô phạm của một tỳ-kheo (phòng ngừa vi phạm, bởi khi đã mất tự chủ thì rất dễ vi phạm vào những giới nặng), như vậy được gọi là “giá”. Tiếp tục, với tỳ-kheo dùng rượu để trị bệnh, vị ấy thực hiện đúng nguyên tắc (đúng pháp) khi chỉ dùng trong mức độ cho phép với mục đích thuần tuý là điều trị bệnh, điều này tất nhiên vẫn không ảnh hưởng đến sự thanh tịnh, như vậy được gọi là “trì”. Tuy nhiên, nếu vị ấy trở nên lạm dụng khi việc sử dụng rượu không chỉ với mục đích trị bệnh mà còn nhằm thỏa mãn sự thèm muốn, như vậy mới gọi là “phạm”.     

Nhìn chung, trong luật học Phật giáo, để hiểu rõ và có thể áp dụng một cách thuần thục các giới điều vào đời sống thì phải nắm vững cũng như biết cách phân loại giới trong tính hệ thống, bài bản. Theo đó, mỗi giới điều sẽ được định khung theo công thức dựa trên bốn sắc thái: danh - chủng - tánh - tướng, nhằm hệ thống hóa và cụ thể hóa trong việc học tập và thực hành: 1. Danh (名), tên gọi của mỗi giới điều cụ thể. 2. Chủng (種), giới điều đó thuộc nhóm giới (loại giới) nào. 3. Tánh (性), tức giới thể, là dạng năng lượng kết tinh khi tiếp nhận giới điều từ bên trong (sự thanh tịnh). 4. Tướng (相), từ bên trong được biểu hiện ra hình thức bên ngoài thông qua hành vi bằng lời nói hay hành động (sự mô phạm).  

Để củng cố việc chấp hành những điều khoản quy định trên, cứ mỗi nửa tháng, Tăng đoàn lại tổ chức lễ bố-tát để đọc giới bổn (prātimokṣa) một lần, với mục đích nhắc nhở sự tuân thủ và cảnh cáo những cá nhân vi phạm. Sẽ có các cấp độ khác nhau trong phương thức xử lý với những đối tượng vi phạm được quy định một cách cụ thể và cũng khá phức tạp cho mỗi hình thức, ở đây không tiện để tiếp tục luận bàn. Đây là một truyền thống lâu đời và dường như không có sự thay đổi. Hình thức hoạt động này đã được duy trì trên hai nghìn rưỡi năm qua, tức từ thời điểm Đức Phật còn tại thế trong bối cảnh xã hội Ấn Độ cổ đại cho đến tận thời đại ngày nay, trên nhiều quốc gia mà Phật giáo đang hiện diện.


Đạo Hy

[1] Thường được dùng với thuật ngữ: “Bát mục - ngũ thiên - thất tụ” để tổng quan toàn bộ hệ thống giới (chỉ trì). Bát mục: tám nhóm giới như trên. Ngũ thiên: năm cấp độ vi phạm tương tứng cho tám nhóm giới. Thất tụ: 1. Ba-la-di, 2. Tăng tàn, 3. Thâu-lan-giá, 4. Ba-dật-đề, 5. Đề-xá-ni, 6. Ác tác, 7. Ác thuyết (Đây là sự triển khai rộng từ ngũ thiên).  

Tham khảo

Thích Phước Sơn. (2006). Luật học tinh yếu. TP.HCM: Phương Đông.     

Thích Trí Thủ. (2024). Yết-ma yếu chỉ. Đà Nẵng: Đà Nẵng.   

Viện Cao đẳng Phật học Hải Đức. (2006). Tứ phần luật (Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh & Tỳ-kheo Thích Đức Thắng dịch - Tỳ-kheo Thích Tuệ Sỹ hiệu đính và chú thích). Ban tu thư Phật học.   


Bình luận


LIÊN HỆ
​daohy1711@gmail.com

  • Black Facebook Icon
  • Black Twitter Icon
  • Black YouTube Icon

© 2026 ĐẠO HY
​Mọi quyền được bảo lưu

bottom of page